Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH TRỊ

TỈNH SÓC TRĂNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Chính
  2. Ông Liêu Chinh Húy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị P, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Thạch K, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 02 năm 2024, nguyên đơn chị Thạch Thị P trình bày:

Vào năm 2010, chị P và anh K tự nguyện kết hôn, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 21-5-2010. Sau khi kết hôn, chị P và anh K sống chung hạnh phúc một thời gian thì giữa chị P và anh K phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị P và anh K không còn sống chung từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian sống chung, chị P và anh K có 01 (một) con chung tên Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007, hiện tại đang sống cùng anh K. Về tài sản chung tự thỏa thuận, về nợ chung không có.

Chị Thạch Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị P được ly hôn với anh Thạch K.
  • Về con chung: Chị Thạch Thị P yêu cầu giao con chung tên Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007 cho anh Thạch K nuôi dưỡng đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Thạch K: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không đến Tòa án làm việc và tham gia hòa giải nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nêu ý kiến đồng ý ly hôn với chị P, đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng nuôi con chung tên Thạch Đình T đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên chị P được ly hôn với anh K; về con chung giao cháu Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; chị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí nguyên đơn chị P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị P khởi kiện anh K để yêu cầu ly hôn và giao con chung cho anh K nuôi dưỡng nhưng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị P, bị đơn anh K đề có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh K tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã đúng theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, chị P có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh K theo quy định pháp luật.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P trình bày sau khi kết hôn, chị P và anh K sống chung hạnh phúc được một thời gian thì giữa chị P và anh K phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên chị P và anh K không còn sống chung. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập chị P và anh K để hòa giải, động viên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với nhau, nhưng anh K không đến tham dự phiên hòa giải, chị P giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Mặc khác, tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 13-5-2024, bị đơn anh K cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với chị P. Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị P và anh K đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị P là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung, chị P và anh K có một con chung tên Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007, hiện tại đang sống cùng anh K. Khi ly hôn, chị P yêu cầu giao con chung cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Theo khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, chị P và anh K không có thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nhưng tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 13-5-2024, bị đơn anh K đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung và qua tham khảo ý kiến của cháu T có nguyện vọng sống cùng anh K. Do vậy, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P giao cháu Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007 cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Xét thấy, kể từ khi chị P và anh K không còn sống chung với nhau, cháu T sống cùng với anh K vẫn bảo đảm các quyền lợi về mọi mặt. Mặt khác, tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 13-5-2024, bị đơn anh K cũng trình bày không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung. Từ đó, có cơ sở cho rằng anh K có đầy đủ các điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và bảo đảm các quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định chị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P và anh K1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết n Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí sơ thẩm, chị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị P được ly hôn với anh Thạch K.
  2. Về con chung: Giao cho anh Thạch K trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi.

Chị Thạch Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Thạch Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Thạch Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000514 ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Chị Thạch Thị P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Thạnh Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Luân

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị P. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị P được ly hôn với anh Thạch K. 2. Về con chung: Giao cho anh Thạch K trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thạch Đình T, sinh ngày 05-4-2007 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị Thạch Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Thạch Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger