|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 31/2025/HS-PT Ngày 13 tháng 03 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hiền
Bà Lê Thị Hạng
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 09/2025/TLPT - HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Ngọc Kim N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Ngọc Kim N - sinh ngày 06/12/2006 tại Khánh Hoà; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A đường Đ, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Tấn T, sinh năm: 1986 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm: 1987; Có chồng: Không rõ, con: 01 con sinh năm 2023; Tiền sự, tiền án: không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc Kim N: Bà Phạm Trân Nhật T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm giợ giúp pháp lý tỉnh Khánh Hoà. (Có mặt).
- Ngoài ra còn có 02 bị cáo không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Nguyễn Xuân H, sinh ngày 08/3/2006, Phan Võ Lê Phúc N1, sinh ngày 17/3/2008, Huỳnh Ngọc Kim V, sinh ngày 26/11/2008, Nguyễn Thị Kim T2, sinh ngày 09/01/2010 và Bùi Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 24/12/2008 là các đối tượng sống lang thang. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/4/2023 đến ngày 19/7/2023, H, N1, V, T2, Â lợi dụng các nhà hàng tại thành phố N quản lý sơ hở đã thực hiện 04 vụ trộm cắp, sau đó đưa tài sản trộm cắp được cho Đỗ Ngọc C và Phạm Ngọc Kim N đem bán lấy tiền cùng nhau tiêu xài; cụ thể như sau:
Vụ 1: Vào khoảng 01 giờ ngày 18/4/2023, H, V và N1 đi bộ đến nhà hàng Đ1 ở địa chỉ 7 N, phường P, thành phố N, V đứng ngoài cảnh giới, còn H và N1 lén lút đi vào lấy chìa khóa để sẵn trên quầy lễ tân và mở hộc tủ đựng tiền lấy trộm 14.000.000 đồng cùng 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 của Công ty TNHH Đ2 do ông Nguyễn Văn P (người được ủy quyền) rồi cả nhóm bỏ đi. Khi đi trên đường H, thành phố N thì cả nhóm đã bán điện thoại trộm cắp được cho một người phụ nữ (chưa rõ lai lịch) được số tiền 1.000.000 đồng chia nhau tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 426/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố N xác định điện thoại di động hiệu Iphone 6 có giá trị là 2.100.000 đồng.
Vụ 2: Vào khoảng 03 giờ 20 phút ngày 16/5/2023, H, V và N1 đi bộ phát hiện tại nhà hàng Ở ở địa chỉ số D N, phường T, thành phố N thấy ông Huỳnh Công Đ là nhân viên bảo vệ đang ngủ; V đứng ngoài cảnh giới để H và N1 lén lút đi vào khu vực quầy lễ tân, lục lấy trộm số tiền 8.500.000 đồng của H1 kinh doanh Bếp Xưa NT rồi cả nhóm bỏ đi. Số tiền trộm cắp được cả nhóm chia nhau tiêu xài hết.
Vụ 3: Vào khoảng 04 giờ ngày 18/7/2023, H, V và T2 đi bộ phát hiện tại nhà hàng U ở địa chỉ số C N, phường T, thành phố N thấy ông Nguyễn Tường T3 là nhân viên bảo vệ đang ngủ nên cả nhóm lén lút đến khu vực quầy lễ tân và lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Dell và một số gói thuốc lá của Công ty TNHH T6 do ông Nguyễn Đức D (người được ủy quyền) đang để trên quầy rồi bỏ đi. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H, V và T2 gặp và nói cho C và N biết vừa mới trộm được máy tính xách tay và nhờ C và N đem bán giùm. Sau đó, C, N, H và T2 đến tiệm điện thoại TIT ở địa chỉ số E đường B tháng A, xã V, thành phố N bán máy tính xách tay trộm cắp được cho ông Nguyễn Ngọc D1 được 300.000 đồng. Số tiền trên cả nhóm cùng chia nhau tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 427/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2023 của Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự - U xác định máy tính xách tay hiệu D2 có giá trị là 3.200.000 đồng. Đối với một số gói thuốc lá không đủ thông tin định giá.
Vụ 4: Vào khoảng 02 giờ ngày 19/7/2023, H điều khiển xe máy chở V, T2 và Â đi ngang qua nhà hàng G ở số A B, phường T, thành phố N phát hiện ông Huỳnh Quang N2 là nhân viên bảo vệ đang ngủ nên V, T2 và Â đứng ngoài cảnh giới để H lén lút leo vào lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu HP và 01 máy tính xách tay hiệu Asus của Hộ kinh doanh G1 do bà Nguyễn Thị Xuân V1 là người đại diện theo pháp luật tại quầy lễ tân rồi cả nhóm bỏ đi. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H, V1, T4 và Â gặp và nói cho C và N biết là vừa trộm được 02 máy tính xách tay và nhờ C và N đem bán. Sau đó, C, N, H và Â đi đến tiệm Đ3 ở số H Đoàn T, phường V, thành phố N bán 02 máy tính xách tay trộm cắp được cho ông Phạm Hồng T5 được 1.850.000 đồng. Số tiền trên, cả nhóm cùng nhau tiêu xài hết.
Tại các bản Kết luận định giá tài sản số 425/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2023 và 591/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự - U xác định máy tính xách tay hiệu HP có giá trị là 1.930.000 đồng và máy tính xách tay hiệu Asus có giá trị là 500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 140/CT-VKSNT ngày 02/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Trần Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Phạm Ngọc Kim N và Đỗ Ngọc C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Phan Võ Lê Phúc N1, Huỳnh Ngọc Kim V, Nguyễn Thị Kim T2 và Bùi Nguyễn Thiên  tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp chưa đủ 16 tuổi nên căn cứ Điều 12 của Bộ luật Hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các ông Nguyễn Ngọc D1 và Phạm Hồng T5, khi mua máy tính từ N và C không biết là tài sản trộm cắp, nên không truy cứu trách nhiệm Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 257/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Nguyễn Xuân H, Xử phạt Trần Nguyễn Xuân H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Ngọc C,
Xử phạt Đỗ Ngọc C 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc Kim N,
Xử phạt Phạm Ngọc Kim N (N) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Trần Nguyễn Xuân H phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là Công ty TNHH Đ2 với số tiền 14.500.000 đồng và bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Huỳnh Công Đ với số tiền là 8.500.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, bị cáo Phạm Ngọc Kim N có đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị sửa bản án sơ thẩm; giảm mức hình phạt.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Phạm Ngọc Kim N kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Ngọc Kim N thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm 257/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết tài sản của người khác phạm tội mà có nhưng bị cáo vẫn đem đi tiêu thụ là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng tù. Tuy nhiên, mức hình phạt 06 tháng tù là chưa phù hợp với quy định tại Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên nên giảm mức hình phạt tù. Mạc khác, xét thấy bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội không gây thiệt hại không lớn. Cấp sơ thẩm không áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thiếu sót. Bị cáo hiện nay nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo có nhân thân tốt, không cso tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xét nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
[3] Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc Kim N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 119, 124 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm:
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Kim N 05 (Năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Bị cáo Phạm Ngọc Kim N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Xuân Oanh |
Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 31/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM NGỌC KIM NGÂN - TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ
