Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/KDTM-ST

Ngày 11 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Phương Tín
  2. Bà Nguyễn Ngọc Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2023/TLST-KDTM ngày 08 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; địa chỉ: B P, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích D, sinh năm 1979; địa chỉ: A Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 35/GUQ-2023 ngày 06/4/2023); có mặt.

2. Bị đơn: Công ty CP Đ; địa chỉ: B Đường số H, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1977; địa chỉ: L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; đã chết ngày 07/01/2024.

Các thành viên còn lại của Công ty CP Đ: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Thanh H1; địa chỉ: L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1977; địa chỉ: L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; đã chết ngày 07/01/2024.
  • - Bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Trường K và trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh năm 2008 (do bà Nguyễn Thị Ngọc H làm người đại diện theo pháp luật); địa chỉ: L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Tấn L); vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1943, chết năm 2021.
  • - Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1946; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H2); vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1980; địa chỉ: L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H2 và ông Nguyễn Tấn L); vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Thanh D1, sinh năm 1970, ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1973, ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975, ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1977; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H2); vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955; địa chỉ: 2 khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Tấn L); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/4/2023, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ) có vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là S1) chi nhánh C theo Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 với nội dung như sau: Số tiền vốn vay là 4.900.000.000 đồng; thời hạn vay là 06 tháng; mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh; lãi suất vay là 9,5%/ năm; lãi suất quá hạn là 150% lãi trong hạn.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Nguyễn Tấn L và vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc H đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 42/HĐBĐ-2019 ngày 19/12/2019, đã được công chứng số 26411 ngày 19/12/2019 tại Phòng C1, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 20/12/2019.

Ngoài ra, để đảm bảo khoản vay trên của Công ty Đ, ông Nguyễn Văn H2 và vợ là bà Nguyễn Thị Y đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số A K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 43/HĐBĐ-2019 ngày 05/11/2019, đã được công chứng số 23380 ngày 05/11/2019 tại Phòng C1, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/11/2019.

Quá trình sử dụng vốn vay, Công ty Đ gặp khó khăn trong kinh doanh nên đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đã bị chuyển sang nợ quá hạn.

Từ những lý do trên, S1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty T3 số nợ tạm tính đến ngày 11/9/2024 như sau:

  • - Nợ gốc: 4.900.000.000 đồng.
  • - Nợ lãi trong hạn: 90.534.962 đồng.
  • - Nợ lãi quá hạn: 1.295.110.274 đồng.

Tổng cộng tạm tính đến ngày 11/9/2024 Công ty Đ phải trả số nợ là 6.285.645.236 đồng.

Kể từ ngày 12/9/2024, Công ty Đ vẫn tiếp tục phải chịu lãi quá hạn lãi chậm trả theo hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho S1.

Trường hợp Công ty Đ không thanh toán được nợ thì S1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ đối với căn nhà số L cư xá P, Phường A, Quận F và căn nhà số A K, Phường A, Quận F.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp vẫn chưa đủ thanh toán nợ thì Công ty Đ vẫn phải tiếp tục thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho S1.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Người đại diện theo pháp luật của bị đơn – ông Nguyễn Tấn L đã chết ngày 07/01/2024:

Tại các biên bản hòa giải trước khi ông Nguyễn Tấn L chết thì ông L xác nhận còn nợ số tiền theo như lời trình bày của nguyên đơn.

Ông L trình bày Công ty T4 đang gặp khó khăn trong kinh doanh nên đề nghị phía nguyên đơn hỗ trợ xem xét giảm lãi và khoanh nợ, không tiếp tục tính lãi đối với khoản vay của công ty để công ty có điều kiện thanh toán nợ. Công ty Đ cam kết trong thời hạn chín tháng sẽ thanh toán dứt nợ cho phía nguyên đơn để giải chấp tài sản.

* Những thành viên còn lại của bị đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Thanh H1 trình bày:

Ông Nguyễn Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H vắng mặt nên không có lời trình bày bổ sung.

Tại các biên bản hòa giải, bà Nguyễn Thị Ngọc H xác định không biết việc ông Nguyễn Tấn L đã đăng ký bà và ông Nguyễn Thanh H1 làm thành viên công ty nên không biết gì về hoạt động kinh doanh của công ty.

Đối với khoản nợ của công ty S1 thì bà H xác nhận số tiền còn nợ như lời trình bày của phía nguyên đơn. Tuy nhiên, hiện nay công ty G, không còn hoạt động nên bà H đề nghị nguyên đơn xem xét khoanh nợ, không tiếp tục tính lãi để tạo điều kiện cho gia đình xoay sở trả nợ thay công ty.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Tấn L đã chết ngày 07/01/2024:

Ông Nguyễn Tấn L đã chết ngày 07/01/2024 nên không có lời trình bày.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người liên quan – bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Nguyễn Thị Ngọc H vắng mặt nên không có lời trình bày bổ sung.

Tại các biên bản hòa giải, bà Nguyễn Thị Ngọc H thống nhất với lời trình bày trước đây của ông Nguyễn Tấn L; xác định công ty Đ còn nợ số tiền vay theo như lời trình bày của nguyên đơn.

Nguyễn Thị Ngọc H xác định quan hệ nhân thân như sau:

  • - Ông nội: Nguyễn Văn T1; đã chết trước cha.
  • - Bà nội: Nguyễn Thị K1; đã chết trước cha.
  • - Cha: Nguyễn Văn H2; đã chết năm 2021.
  • - Mẹ: Nguyễn Thị Y; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Anh: Nguyễn Thanh L1; đã chết ngày 27/12/2001; khi chết chưa có vợ con.
  • - Anh: Nguyễn Thanh D1; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Anh: Nguyễn Thanh P; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Anh: Nguyễn Thanh B; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Anh: Nguyễn Thanh H1; địa chỉ: 1 K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Cha chồng: Nguyễn Văn T; địa chỉ: 2 khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
  • - Mẹ chồng: Nguyễn Thị D2; đã chết ngày 07/01/2018.
  • - Con: Nguyễn Trường KNguyễn Ngọc Bảo N; địa chỉ: L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận không biết lý do vì sao Ngân hàng Thương mại cổ phần S có bản photo Tờ tường trình về quan hệ nhân thân ngày 06/06/2022 lại ghi không đúng tên họ của ông bà nội là Bàng Văn H3Nguyễn Thị T2. Các thông tin tại Tờ tường trình trên do phía nguyên đơn cung cấp hoàn toàn không đúng.

Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận không biết lý do vì sao Ngân hàng Thương mại cổ phần S có bản photo Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 25/10/2019 xác định bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Thanh H1 là thành viên công ty. Bà H khẳng định bà và ông H1 không phải là thành viên công ty. Ngoài ra, chữ ký trong biên bản họp không phải chữ ký của bà và những người liên quan. Bà không biết ai đã giả chữ ký của những người có tên trong Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 25/10/2019. Tuy nhiên, bà H không có yêu cầu tiến hành giám định chữ ký và xác nhận Công ty Đ có vay mượn nợ thì công ty phải trả nợ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người liên quan – ông Nguyễn Trường K trình bày:

Ông Nguyễn Trường K vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người liên quan – trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N (do bà Nguyễn Thị Ngọc H làm người đại diện theo pháp luật) trình bày:

Tại các biên bản hòa giải, bBà Nguyễn Thị Ngọc H thống nhất với lời trình bày nêu trên của bà Nguyễn Thị Ngọc H đã trình bày với tư cách là thành viên công ty Đ và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người liên quan – bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1 trình bày:

Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người liên quan – ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông Nguyễn Văn T vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác định nội dung tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng; tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định; việc cấp, tống đạt và giao nhận văn bản tố tụng dân sự chưa đúng quy định của pháp luật. Cụ thể là Tòa án đã chậm tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chậm đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; thủ tục tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự luật định. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền còn nợ là 6.285.645.236 đồng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Về quan hệ tranh chấp:

Ngày 04/11/2019, S1Công ty Đ có ký kết Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN; theo đó S1 cho Công ty Đ vay 4.900.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 05 ngày 30/5/2022, thời hạn vay 06 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 04/11/2022, lãi suất trong hạn là 9,5%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Các bên ký kết và thực hiện hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005; khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền giải quyết:

Công ty Đ có trụ sở tại địa chỉ B Đường số H, Phường D, Quận H; tuy nhiên, tại điểm 12.3 Điều 12 của Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN các bên có thỏa thuận: “... Nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở của Ngân hàng TMCP S nơi cho vay (Hội sở hoặc chi nhánh) giải quyết”; Hợp đồng giữa hai bên được ký kết và thực hiện tại Chi nhánh C thuộc Quận A của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm b, g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về pháp luật nội dung được áp dụng:

Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 và Giấy nhận nợ ngày 30/5/2022 được ký kết giữa hai bên có xác định mục đích vay là để kinh doanh và do các bên đều là chủ thể của quan hệ kinh doanh, thương mại; quan hệ tranh chấp giữa hai bên được xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên.

[3] Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L2 chết ngày 07/01/2024; do đó, đối với bị đơn, Tòa án triệu tập các thành viên công ty còn lại là bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Thanh H1 tham gia vụ án với tư cách là người đại diện theo pháp luật của bị đơn; triệu tập vợ của ông L2 là bà Nguyễn Thị Ngọc H, các con gồm ông Nguyễn Trường K và trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N và cha là ông Nguyễn Văn T tham gia vụ án với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với mẹ của ông Nguyễn Tấn L là bà Nguyễn Thị D2 đã chết ngày 07/01/2018 nên Tòa án không triệu tập tham gia tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H2 đã chết ngày 14/3/2021 nên Tòa án triệu tập người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H2 tham gia vụ án bao gồm bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1.

Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ là Công văn số 5930/CAQ-QLHC ngày 29/9/2023 của Công an Q xác định cha mẹ của ông Nguyễn Văn H2 là ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị K1 đã chết trước ông H2; do đó, Tòa án không triệu tập ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị K1 tham gia tố tụng.

Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Thanh H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1 và ông Nguyễn Trường K nhưng tại ngày mở phiên tòa ngày 13/8/2024 đương sự vắng mặt. Tòa án tiếp tục tống đạt quyết định hoãn phiên tòa phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ cho đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa hôm nay đương sự vẫn vắng mặt. Do vậy, việc xét xử vắng mặt người đại diện theo pháp luật của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[4] Về việc xem xét các chứng cứ:

Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành phiên hòa giải. Tại các lần tiến hành phiên họp và phiên hòa giải, các bên đương sự có mặt thừa nhận và không có ý kiến phản đối các chứng cứ do bên kia cung cấp và do Tòa án thu thập; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có văn bản phản đối các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

5.1. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:

Xét Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 và Giấy nhận nợ số 05 ngày 30/5/2022 được ký kết giữa hai bên, Hội đồng xét xử xét thấy giữa Saigon B1Công ty Đ có giao dịch hợp đồng tín dụng, S1 đã giải ngân cho Công ty Đ vay để bổ sung vốn kinh doanh. Tuy nhiên, sau đó bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 6.285.645.236 đồng (bao gồm nợ gốc là 4.900.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 90.534.962 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.295.110.274 đồng).

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã thừa nhận có ký kết với S1 Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 và giấy nhận nợ; thừa nhận hiện còn nợ số tiền vay như phía nguyên đơn trình bày.

Tại khoản 1 Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn”.

Tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N1 có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.”.

Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 và Giấy nhận nợ số 5 ngày 30/5/2022 giữa S1Công ty Đ được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, điểm đ khoản 1 Điều 25 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn về tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có hiệu lực pháp luật. S1 đã giải ngân đầy đủ số tiền vay gốc cho Công ty Đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng, S1 khởi kiện yêu cầu Công ty Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nêu trên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Công ty Đ phải thanh toán cho S1 nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử 11/9/2024, cụ thể như sau: Nợ gốc là 4.900.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 90.534.962 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.295.110.274 đồng.

Công ty Đ còn có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 và Giấy nhận nợ số 05 ngày 30/5/2022 kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi trả dứt nợ.

5.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 42/HĐBĐ-2019 ngày 19/12/2019, đã được công chứng số 26411 ngày 19/12/2019 tại Phòng C1, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/12/2019 thì ông Nguyễn Tấn L và vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc H đã thế chấp tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS32174 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 24/10/2018 đứng tên ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 43/HĐBĐ-2019 ngày 05/11/2019, đã được công chứng số 23380 ngày 05/11/2019 tại Phòng C1, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/11/2019 thì ông Nguyễn Văn H2 và vợ là bà Nguyễn Thị Y đã thế chấp tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ. Tài sản thế chấp là: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số A K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5051/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 11/11/2008 đứng tên ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H thừa nhận việc thế chấp tài sản trên để đảm bảo trả nợ vay; lời thừa nhận của ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H phù hợp với tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập được. Quá trình giải quyết vụ án thì ông Nguyễn Tấn L chết, do vậy các quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Tấn L do những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông L thực hiện. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông L bao gồm bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Trường K, trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N (do bà H đại diện theo pháp luật) và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến liên quan đến tài sản thế chấp; vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ cho nguyên đơn.

Ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y thế chấp quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số A K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo trả nợ vay cho Công ty Đ. Tuy nhiên, trước khi nguyên đơn khởi kiện, ông Nguyễn Văn H2 chết năm 2021; những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H2 gồm có bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1 và ông Nguyễn Thanh L1 (ông Nguyễn Thanh L1, chết năm 2001, là con của Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y, không có con). Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh H1 tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H2; tuy nhiên, các đương sự không đến Tòa án để giải quyết vụ án và không có văn bản nêu ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không có cơ sở để xem xét. Lời thừa nhận của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H phù hợp với tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập được về việc ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay của Công ty Đ; vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số A K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ cho nguyên đơn.

[6] Xét ý kiến của bị đơn:

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn - Công ty Đ là ông Nguyễn Tấn L xác nhận có vay của S1 theo Hợp đồng tín dụng số 41/2019/HĐTDHM-PN ngày 04/11/2019 và Giấy nhận nợ theo đúng như lời trình bày của phía nguyên đơn. Sau khi ông Nguyễn Tấn L chết, thành viên còn lại của bị đơn là ông Nguyễn Thanh H1 vắng mặt và không có ý kiến; thành viên của bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận còn nợ số tiền vay như phía nguyên đơn trình bày.

Nguyễn Thị Ngọc H không có ý kiến gì khác liên quan đến khoản nợ của bị đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị Ngọc H và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Tấn L:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H có lời khai thống nhất với lời khai của bị đơn, đề nghị phía nguyên đơn hỗ trợ xem xét giảm lãi và khoanh nợ, không tiếp tục tính lãi đối với khoản vay của công ty để công ty có điều kiện thanh toán nợ. Nguyên đơn không chấp nhận đề nghị của bị đơn, ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Tấn L gồm có bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Trường K, trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N (do bà H đại diện theo pháp luật) và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến gì khác liên quan đến tài sản thế chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H2 – bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1, bà Nguyễn Thị Ngọc H:

Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết.

Nguyễn Thị Ngọc H đã có ý kiến đề nghị phía nguyên đơn hỗ trợ xem xét giảm lãi và khoanh nợ, không tiếp tục tính lãi đối với khoản vay của công ty để công ty có điều kiện thanh toán nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận.

[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về việc Tòa án còn có một số khuyết điểm trong quá trình giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã phát biểu tại phiên tòa về việc buộc bị đơn phải trả nợ vay cho nguyên đơn.

[10] Về án phí:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ là 6.285.645.236 đồng (sáu tỷ hai trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm ba mươi sáu đồng) và được Tòa án chấp nhận. Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 114.285.645 đồng (một trăm mười bốn triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng).

[14] Về xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ngày 23/6/2023, Tòa án đã ra Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Ngày 19/7/2023, Tòa án đã phối hợp cùng với cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp tại địa chỉ số L cư xá P, Phường A, Quận F và số A K, Phường A, Quận F. Nguyên đơn đã đóng tạm ứng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng được Tòa án chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị đơn phải gánh chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm b, g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2018;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc buộc Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Buộc Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 11/9/2024 số tiền là 6.285.645.236 đồng (sáu tỷ hai trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm ba mươi sáu đồng), bao gồm tiền nợ vốn gốc là 4.900.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 90.534.962 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.295.110.274 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm Công ty Cổ phần Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì lãi suất mà Công ty Cổ phần Đ phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Trong trường hợp Công ty Cổ phần Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý, kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ đối với tài sản thế chấp bao gồm:

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số L cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5051/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 11/11/2008, đứng tên ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị Ngọc H, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 42/HĐBĐ-2019 ngày 19/12/2019, đã được công chứng số 26411 ngày 19/12/2019 tại Phòng C1, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 20/12/2019.
  • - Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số A K, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5051/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 11/11/2008, đứng tên ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 43/HĐBĐ-2019 ngày 05/11/2019, đã được công chứng số 23380 ngày 05/11/2019 tại Phòng C1, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/11/2019.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý, phát mại tài sản thế chấp, sau khi thanh toán các nghĩa vụ trả nợ và các chi phí khác mà còn dư tiền thì số tiền còn dư sẽ được trả lại cho chủ sở hữu, chủ sử dụng có tài sản thế chấp và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cho chủ sở hữu, chủ sử dụng có tài sản thế chấp.

Trường hợp sau khi xử lý, phát mại tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Cổ phần Đ vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.

Trong trường hợp Công ty Cổ phần Đ hoặc bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Thanh D1, ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H1, ông Nguyễn Trường K, trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N và ông Nguyễn Văn T thanh toán xong tất cả các khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có nghĩa vụ tiến hành ngay thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ, tài sản đã giữ của ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y liên quan đến tài sản thế chấp; trừ trường hợp ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Y còn phải thực hiện nghĩa vụ khác đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

2. Về án phí:

Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 114.285.645 đồng (một trăm mười bốn triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng).

H4 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.694.660 đồng (năm mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi đồng) theo Biên Lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021056 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11.

3. Về chi phí tố tụng khác:

Buộc Công ty Cổ phần Đ phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã thanh toán trước số tiền là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

4. Các quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trong trường hợp bản án, được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Về quyền kháng nghị:

Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/KDTM-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 31/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger