Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

“Phiên tòa trực tuyến”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lê

Bà Nguyễn Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Đức Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà và phòng xét xử trực tuyến Công an huyện H, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Trường K (không có tên gọi khác), sinh ngày 22 tháng 12 năm 2002, tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi thường trú: khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T và bà Triệu Thu H; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 23/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Triệu Quang H1, sinh năm: 1948; nơi thường trú: khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có lý do.

- Người làm chứng: Nguyễn Đức T1;

- Người chứng kiến: Lường V, Nguyễn Thanh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, tại khu phố L, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Công an huyện H bắt quả tang Phạm Trường K đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, mục đích để bán. Vật chứng thu giữ: thu trong túi quần đùi bên trái của K đang mặc 01 (một) túi nilon bên trong chứa thực vật khô, kết quả giám định là ma tuý loại cần sa có khối lượng 5,113 gam.

Cùng ngày 23/5/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vật chứng thu giữ: T2 tại phòng ngủ của K 10 (mười) túi nilon chứa thực vật khô, kết quả giám định là ma tuý loại cần sa có tổng khối lượng 10,007 gam.

(Kết luận giám định số 750/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q).

Quá trình điều tra, Phạm Trường K khai nhận: do muốn có tiền chi tiêu cá nhân, Phạm Trường K đã nảy sinh ý định mua ma túy loại cần sa để bán kiếm lời. Ngày 04/4/2024, K liên hệ với tài khoản mạng xã hội Telegram tên “Em bé K1” đặt mua 60 gam cần sa với giá 9.500.000 đồng, thoả thuận cách thức giao dịch gửi qua dịch vụ chuyển phát, khi K nhận được ma tuý sẽ thanh toán tiền. Ngày 10/4/2024, công ty C (không rõ công ty, địa chỉ) giao cho K hộp bìa các tông, sau khi trả 9.500.000 đồng tiền mặt cho nhân viên chuyển phát, K cầm hộp bìa các tông về phòng ngủ rồi chia cần sa vào các túi nilon để sử dụng và đem bán cho các đối tượng khác để kiếm lời. Khoảng 14 giờ ngày 23/5/2024, Nguyễn Đức T1 sử dụng tài khoản trên ứng dụng Telegram liên hệ với K đặt mua 2.000.000 đồng ma tuý cần sa, cả hai thống nhất đến cổng trường Trung học cơ sở thị trấn Q để giao dịch và thanh toán tiền. Đến 17 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 14 - 870-K2 mang theo ma tuý cần sa đến điểm hẹn để bán cho T1, nhưng chưa kịp bán, thì bị Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trường Khánh t khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài ra, Phạm Trường K còn khai rõ, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 14 - 870-K2 là tài sản của ông Triệu Quang H1. Ông H1 là ông ngoại của K. Việc K tự ý sử dụng xe để đi bán trái phép ma túy không nói cho ông H1 biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Triệu Quang H1 mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong quá trình điều tra thể hiện: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 14 - 870-K2 là tài sản của ông mua năm 1995, do hiện nay ông đã già yếu nên thỉnh thoảng sử dụng xe. Ngày 23/5/2024, K là cháu ngoại của ông đã tự ý lấy xe không nói cho ông biết, ông không giao xe cho K. Nay ông đề nghị cơ quan trả lại xe và giấy tờ để ông và gia đình sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngoài ra ông không có ý kiến, yêu cầu gì. Ngày 09/9/2024, ông có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người làm chứng anh Nguyễn Đức T1 có lời khai thể hiện phù hợp về thời gian, địa điểm liên lạc mua trái phép chất ma túy của một người đàn ông qua ứng dụng Telegram. Anh chỉ biết mặt người bán, sau khi đến cơ quan Công an làm việc mới biết người đàn ông này tên là Phạm Trường K.

Người chứng kiến anh Lường Văn H2, anh Nguyễn Thanh V đều có lời khai thể hiện phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm chứng kiến việc cơ quan chức năng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng của Phạm Trường K đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 4139/CT-VKS, ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Trường K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 41 và 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án Phạm Trường K nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt: bị cáo Phạm Trường K từ 24 tháng đến 30 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt quả tang, ngày 23/5/2024.

*) Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

*) Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì có chữ: “Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 750/KL-KTHS ngày 29/5/2024” của Phòng K2 Công an tỉnh Q; 02 lọ thuỷ tinh có nắp đậy hình bầu tròn; 01 cân tiểu ly màu bạc; 108 vỏ túi nilon rỗng; 01 sim có số thuê bao 0934.385.083;

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng-trắng;

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Trường K.

- Trả lại cho ông Triệu Quang H1: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Honda Dream màu tím than, biển kiểm soát 14-870-K2 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: bị cáo Phạm Trường K tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; đồng thời tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục không có ý kiến gì, Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: đánh giá nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; đồng thời trên cơ sở kết luận giám định của phòng K2 Công an tỉnh Q và các chứng cứ, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận:

Ngày 23/5/2024, Phạm Trường K đã có hành vi tàng trữ trái phép 5,113 gam ma tuý cần sa mục đích để bán kiếm lời cho Nguyễn Đức T1 tại khu phố L, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, thì bị Công an huyện H bắt quả tang, thu giữ vật chứng; Đồng thời tại nơi ở khu phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Trường K còn tàng trữ trái phép 10,007 gam ma túy cần sa, mục đích để bán kiếm lời, thì bị Cơ quan điều tra khám xét, thu giữ vật chứng. Tổng cộng, Phạm Trường K có hành vi mua bán để bán trái phép 15,120 gam ma túy cần sa.

Bị cáo Phạm Trường K có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, vi phạm quy định do Bộ luật Hình sự điều chỉnh. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Trường K đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, các chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng nên quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà là có căn cứ pháp lý.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[3]. Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời xâm phạm trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bản thân Phạm Trường K có nhận thức nhất định về pháp luật, tuy nhiên, do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện nên bị cáo đã thực hiện hành vi pháp luật không cho phép, vì vậy cần xử lý tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[4]. Về áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo K có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, là Đảng viên được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, bà ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng lao động tự do thu nhập không ổn định, bán trái phép chất ma túy nhưng chưa thực hiện được nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy cần thiết ấn định mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo ở trong khung đã truy tố và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Sau khi giám định, phòng K2 Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an huyện H 14,23 gam ma túy loại cần sa cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 750/KL-KTHS theo đúng quy định của pháp luật; 02 lọ thuỷ tinh có nắp đậy hình bầu tròn; 01 cân tiểu ly màu bạc; 108 vỏ túi nilon rỗng, 01 sim điện thoại đây là chất Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 điện thoại Iphone màu vàng trắng, điện thoại đã qua sử dụng, dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) căn cước công dân mang tên Phạm Trường K là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo T1.

- Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Honda Dream màu tím than biển kiểm soát 14 - 870-K2, xe cũ đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 870-K2 xét thấy, chiếc xe không liên quan đến việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử thấy cần trả lại chiếc xe và giấy tờ xe nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Triệu Quang H1.

[7]. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Trường K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí.

[8]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Liên quan trong vụ án còn có người sử dụng tài khoản Telegram tên “Em bé K1” bán trái phép chất ma túy cho K nhưng không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để xử lý; Nguyễn Đức T1 liên hệ mua ma tuý của K nhưng chưa chuyển tiền, chưa nhận ma tuý, do đó chưa cấu thành tội phạm, nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra, K còn khai đã từng bán cần sa cho người không quen biết, nhưng không xác định được lai lịch, địa chỉ của họ, không có chứng cứ khác; số ma tuý K đã sử dụng không thu giữ được để xác định khối lượng ma tuý, nên không đủ cơ sở xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Trường K 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ: điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 02 lọ thuỷ tinh có nắp đậy hình bầu tròn; 01 cân tiểu ly màu bạc; 108 vỏ túi nilon rỗng; 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì có chữ: “Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 750/KL-KTHS theo đúng quy định của pháp luật; 01 (một) sim có số thuê bao 0934.385.083.

2.2. Tịch thu của Phạm Trường K: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu vàng - trắng, máy cũ đã qua sử dụng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

2.3. Trả lại Phạm Trường K 01 (một) căn cước công dân mang tên Phạm Trường K;

2.4. Trả lại ông Triệu Quang H1: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Honda Dream màu tím than biển kiểm soát 14 - 870-K2, xe cũ đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 870-K2.

(Tình trạng vật chứng trên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, số 37/CCTHADS ngày 16/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Trường K phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Hải Hà;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Hải Hà;
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công an huyện Hải Hà;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Hải Hà;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Dương Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trường K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger