Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ G

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 11-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
  2. Ông Nguyễn Thành Nhạn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Thị Huyền N; Sinh ngày 01/6/1997; Tại: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

Nơi cư trú: Ấp G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Phùng L, sinh năm 1962 và bà: Trần Thị M, sinh năm 1966; Chồng: Nhan Văn Đ, sinh năm 1998; Con: Nhan B, sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

2.1 Nguyễn Thị L1, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp 16 B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

2.2 Thái Thị Mỹ H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bùi Cẩm H1, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 12/9/2023, bị cáo Lâm Thị Huyền N đi đến chùa G thuộc khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Bị cáo nhìn thấy bà Nguyễn Thị L1 cầm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu đen để chụp hình và bỏ vào trong túi xách. Lợi dụng lúc đông người, chen lấn, N dùng tay kéo dây kéo, mở túi xách lấy trộm của bà Nguyễn Thị L1 01 điện thoại di động nêu trên, rồi tắt nguồn, bỏ vào túi xách của mình cất giấu. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, cũng tại chùa G trên bị cáo thấy bà Thái Thị Mỹ H cầm 01 điện thoại di động màu đen mặt sau có hình quả táo hiệu Iphone 11 để chụp hình, sau đó bỏ vào túi xách. Lợi dụng lúc đông người, chen lấn bị cáo lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nêu trên, cất giấu vào túi xách của mình. Sau đó, bị phát hiện Công an mời làm việc bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và giao nộp các điện thoại.

Tại kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G kết luận: 01điện thoại di động OPPO A5, dung lượng bộ nhớ 64G, màu đen, mua vào năm 2020, trong điện thoại có chứa sim mang số thuê bao 0947.064.893. Tại thời điểm yêu cầu định giá có giá là 2.350.000 đồng/chiếc. Nhưng do thời gian sử dụng tài sản bị hao mòn nên giá trị còn lại là 20%. Đối với sim mang số thuê bao 0947.064.893 không định giá được vì không đủ cơ sở.

Thành tiền 01 điện thoại di động OPPO A5 x 2.350.000 đồng x 20% = 470.000 đồng.

01 điện thoại di động Iphone 11, dung lượng bộ nhớ 64G, màu đen, mua vào ngày 11/4/2022, trong điện thoại có chứa sim mang số thuê bao 0356.506.081. Tại thời điểm yêu cầu định giá có giá là 10.790.000 đồng/chiếc. Nhưng do thời gian sử dụng tài sản bị hao mòn nên giá trị còn lại là 72%. Đối với sim mang số thuê bao 0356.506.081 không định giá được vì không đủ cơ sở.

Thành tiền 01 điện thoại di động Iphone 11 x 10.790.000 đồng x 72% = 7.768.800 đồng.

Tổng giá trị của 02 chiếc điện thoại di động là 8.238.800 đồng.

Ngoài hành vi trộm cắp tài sản của bà Thái Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị L1. Vào ngày 13/9/2023 bị cáo lén lút trộm cắp của bà Bùi Cẩm H1 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21 tại chùa G thuộc khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Qua định giá kết luận tài sản chiếm đoạt trị giá 1.476.000 đồng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã G quyết định xử phạt hành chính.

Bản cáo trạng số: 36/CT-VKS-HS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Lâm Thị Huyền N tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thị Huyền N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lâm Thị Huyền N từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Thái Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị L1 và bà Bùi Cẩm H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Các tài sản bị cáo lấy trộm đã giao trả cho chủ sở hữu xong nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bà Thái Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị L1 và bà Bùi Cẩm H1, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, được triệu tập tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Thái Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị L1 và bà Bùi Cẩm H1.

[2] Xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền chi xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau: Vào khoảng 17 giờ, ngày 12/9/2023, bị cáo Lâm Thị Huyền N lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu OPPOA5 màu đen của bà Nguyễn Thị L1 tại chùa G thuộc khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Qua định giá kết luận tài sản chiếm đoạt trị giá 470.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo tiếp tục lén lút trộm cắp của bà Thái Thị Mỹ H 01 điện thoại di động màu đen mặt sau có hình quả táo hiệu Iphone 11 tại chùa G thuộc khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Qua định giá kết luận tài sản chiếm đoạt trị giá 7.768.800 đồng. Tổng cộng tài sản chiếm đoạt 8.238.800 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã G truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khỏe, có đủ nhận thức để biết trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do ý thức phấn đấu tự rèn luyện kém, không có nghề nghiệp ổn định, muốn ngồi không để hưởng thụ trên sức lao động của người khác và hưởng lợi cho cá nhân, dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo sống trong cộng đồng dân cư không biết chung tay góp sức đẩy lùi tệ nạn xã hội mà đi vào con đường phạm tội. Việc đưa bị cáo ra xét xử để cảm hóa, giáo dục giúp cho họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đang có thai, do đó áp dụng tình tiết tại điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Thái Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị L1 và bà Bùi Cẩm H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Các tài sản bị cáo lấy trộm đã giao trả cho chủ sở hữu xong nên không đặt ra xem xét.

[6] Đối với lần lấy trộm 01 điện thoại di động của bà Bùi Cẩm H1 ngày 13/9/2023. Qua định giá kết luận tài sản chiếm đoạt trị giá 1.476.000 đồng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã G quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thị Huyền N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lâm Thị Huyền N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Bà Thái Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị L1 và bà Bùi Cẩm H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét.
  5. Về xử lý vật chứng: Các tài sản bị cáo lấy trộm đã giao trả cho chủ sở hữu xong nên không đặt ra xem xét.
  6. Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Thị Huyền N nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự.
  7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND thị xã G;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - CQĐT Công an thị xã G;
  • - THAHS Công an thị xã G;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Liệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị Huyền Ngân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger