Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 11/7/2024

“V/v tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Quyên
2. Bà Vũ Thị Lệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:

Không tham gia

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐ-TA ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990

Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Chị V có mặt, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị Nguyễn Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh C năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau cả tư tưởng cũng như cách sống. Vợ chồng chị thường xuyên cãi vã, anh C đã đánh chửi, đuổi chị ra khỏi nhà nhiều lần mặc dù bản thân anh C sống chơi bời, nghiện ngập, chị đã tha thứ cho anh C nhiều lần nhưng không hề thay đổi, chị về nhà ngoại ở và sống ly thân từ ngày 26/03/2024 cho tới nay. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng. Vì vậy, chị V đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C để hai bên sớm ổn định cuộc sống và tư tưởng.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 6/7/2012 và Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 21/01/2015.

Chị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hiện nay chị đang nuôi hai con sống tại nhà mẹ đẻ chị (thuộc TDP T, xã T, TP ., Thái Nguyên), là công nhân tại Công ty S thuộc Khu Công nghiệp Y. Mức lương thu nhập tối thiểu là 10.000.000đồng/1tháng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị và anh C sẽ tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V và anh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai anh C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh C xác định thời gian kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P.

Quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau cả về tư tưởng cũng như cách sống, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cãi vã. Cuộc sống hôn nhân dẫn rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể hàn gắn mối quan hệ này nữa, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị V có nguyện vọng ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh C nhất trí giao hai con cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh C đều vắng mặt vì vậy phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án ly hôn căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh C hiện đang cư trú tại huyện P, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên tòa bị đơn anh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh C.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh C kết hôn với nhau năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện đủ điều kiện được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống chị V và anh C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Chị V xác định mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng nên chị V có nguyện vọng xin được ly hôn với anh C.

Anh C xác định nguyên nhân dẫn đến việc chị V yêu cầu ly hôn với anh là do không tìm được tiếng nói chung khiến cho vợ chồng xảy ra cãi vã. Hiện nay, chị C đã bỏ về nhà ngoại ở. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng chị V yêu cầu giải quyết ly hôn anh đồng ý.

Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế trong cuộc sống vợ chồng anh, chị đã xảy ra những mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị V và anh C đã ở mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã hết, vì vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận đơn ly hôn của chị V, cho chị được ly hôn với anh C như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 6/7/2012 và Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 21/01/2015.

Nhận thấy chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác, anh C cũng nhất trí để chị V trực tiếp nuôi các con. Xét thấy, do các cháu còn nhỏ nên cần đảm bảo sự phát triển, ổn định tâm sinh lý của trẻ nhỏ và nguyện vọng của hai cháu Q và N muốn được ở với mẹ và trên cơ sở thực tế chị V có việc làm và mức thu nhập ổn định có đủ khả năng để cho con có điều kiện nuôi dưỡng và học tập tốt, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con. Vì vậy, giao con Nguyễn Minh Q và Nguyễn Thị Quỳnh N cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị V và anh C tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Do chị V và anh C không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 146, 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Nguyễn Thị V, cho chị V được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
  2. Về con chung: Giao con Nguyễn Minh Q, sinh ngày 6/7/2012 và Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 21/01/2015 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị V và anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị V và anh C tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị V và anh C không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003797 ngày 24/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, chị V được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án; anh C được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Lương Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ - ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân, cho chị Vân được ly hôn anh Nguyễn Văn Cường
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger