Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HSST

Ngày: 11/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Doãn.

Bà Đoàn Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 07 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Đỗ Thị V - sinh năm 2005 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố H, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T (đã chết); con bà: Đỗ Thị T1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chồng con: chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/04/2024 đến ngày 16/04/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H.

  2. Bị cáo: Lò Thị T2 - sinh năm 1996, tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Quang T3; con bà: Cầm Thị H; gia đình có 6 người con, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; chồng: chưa có; bị cáo có 1 con sinh năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/04/2024 đến ngày 16/04/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H.

  3. Bị cáo: Đặng Văn Đ - sinh ngày 11/10/2006, tại xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn H1; con bà: Trần Thị T4; gia đình có 3 người con, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; vợ con chưa có; Tiền án: Không, Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/04/2024 đến ngày 16/04/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 03/12/2006 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện H, Thanh Hóa.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn K - Sinh năm 1958 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

Anh Trần Đức T5 - Sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Người trợ giúp pháp lý cho bị cáo Đặng Văn Đ:

Bà Lương Thanh V1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút 07/4/2024, tại phòng 201 của Nhà nghỉ K2 thuộc thôn M, xã M, huyện H. Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phát hiện, bắt quả tang Đỗ Thị V, Đặng Văn Đ, Lò Thị T2Nguyễn Minh Đ1 (sinh năm: 2006, trú tại thôn T, xã N, huyện H) đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) viên nén màu xám; 02 (hai) túi ni lông màu trắng viền xanh kích thước mỗi túi khoảng (02 x 02) cm bên trong đều bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn trên bề mặt đĩa có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 (một) ống hút được cuộn từ tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) cố định bằng ba vỏ đầu tẩu thuốc lá; 01 (một) thẻ cứng màu hồng tím (loại thẻ bảo hành); 01 (một) bật lửa ga màu vàng; 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0867 037 822 của Đỗ Thị V; 01 (một) điện thoại Iphone 13 màu trắng cũ, đã qua sử dụng gắn sim số 0338 041 123 của Lò Thị T2; 01 (một) điện thoại Iphone x màu trắng cũ, đã qua sử dụng không gắn sim của Nguyễn Minh Đ1 .

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/4/2024, sau khi ăn tối xong, Đỗ Thị VĐặng Văn Đ về phòng 201 của Nhà nghỉ K2 thuộc thôn M, xã M, huyện H nghỉ ngơi. Tại đây, Đỗ Thị V nhắn tin rủ Lò Thị T2 đang làm nhân viên phục vụ tại quán K3 thuộc thôn M, xã M, huyện H đến phòng B Nhà nghỉ K2 để chơi thì T2 đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, T2 đến phòng 201 Nhà nghỉ K2 nhìn thấy V đang ở cùng với Đ thì Lò Thị T2 nói với V “bạn có người yêu ngủ cùng, tôi rủ người yêu lên ngủ cùng được không”, V trả lời “tuỳ bạn”, nghe xong T2 dùng điện thoại gọi qua Messenger rủ anh Nguyễn Minh Đ1 (sinh ngày: 03/12/2006, trú tại thôn T, xã N, huyện H, Thanh Hóa, là người dưới 18 tuổi) đến chơi nhưng Đ1 không nghe điện thoại. Sau đó, V nói “có chơi Ke không” (ý V hỏi có sử dụng ma tuý không), T2 trả lời “không có tiền” (ý T2 nói không có tiền góp để mua ma túy), V nói “tao mời”, T2 đồng ý, còn Đ đang ngồi trên giường không nói gì. Sau đó, V lấy ma túy loại MDMA và Ketamin trong túi xách ra bẻ viên ma túy loại MDMA làm bốn phần để lên bàn trong phòng nghỉ, Đ thấy vậy đến lấy một phần cho vào miệng dùng nước để uống xong lên giường nằm, V cầm một phần sử dụng và đưa cho T2 một phần để sử dụng, sử dụng xong T2 lên giường ngồi cạnh Đ, V lấy túi Ketamine đổ lên đĩa dùng bật lửa đốt giấy vệ sinh hơ nóng đĩa dùng thẻ xào và chia thành các đường Ketamin nhỏ để lên bàn và lấy tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) cuộn thành ống hút dùng 03 (ba) vỏ đầu tẩu thuốc lá để cố định đặt lên đĩa Ketamin, rồi lên giường nằm cạnh Đ. Đến khoảng 02 giờ 00 phút cùng ngày, anh Nguyễn Minh Đ1 gọi lại thì T2 không nghe điện thoại mà đưa cho Đ nghe điện thoại và nói Đ rủ Đ1 đến Nhà nghỉ K2 sử dụng ma túy thì Đ1 đồng ý. T2 nhắn tin với anh Đ1 khi đến Nhà nghỉ thì lấy thêm một phòng nữa sau đó sang phòng 201, còn V gọi cho anh Đ1 nhờ mua 10 (mười) quả trứng chần và chuyển khoản cho anh Nguyễn Minh Đ1 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) để trả tiền mua trứng, anh Đ1 đồng ý. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, anh Đ1 đến Nhà nghỉ K2 thuê thêm phòng 203 nhưng không ở mà sang luôn phòng 201, khi đến phòng 201 anh Đ1 lên giường ngồi cạnh T2T2 lấy một phần viên ma túy MDMA đang để trên bàn đưa cho anh Đ1 sử dụng xong lên giường nằm nghe nhạc. Đến khoảng 02 giờ 50 phút cùng ngày, sau V lấy đĩa Ketamin đã chia sẵn các đường nhỏ đưa cho T2 sử dụng, T2 sử dụng xong bê để anh Đ1 cầm ống hút sử dụng. Sau đó, T2 bê đĩa K1 đưa cho V sử dụng, V sử dụng xong đưa cho Đ sử dụng xong đặt lên bàn trong phòng nghỉ. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, V bê đĩa K1 tiếp tục sử dụng, khi sử dụng xong đưa cho Đ sử dụng, Đ sử dụng xong, V bê đưa cho T2 sử dụng, khi sử dụng xong đưa cho anh Đ1 sử dụng, sau đó tất cả cùng nằm nghe nhạc. Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phát hiện, bắt quả tang như trên .

Tiến hành khám xét phòng 201 Nhà nghỉ K2 thuộc thôn M, xã M, huyện H không thu giữ được gì .

Tại bản kết luận giám định số 1507/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận:

  • 01 (một) viên nén màu xám của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,395g (không phẩy ba chín năm gam) loại: MDMA.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ của phong bì niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 02 (hai) túi ni lông màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine.
  • Tìm thấy chất ma túy, loại: Ketamine bám dính bên trong ống hút và trên bề mặt thẻ cứng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 1535/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA, Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của: Đặng Văn Đ, Nguyễn Minh Đ1, Lò Thị T2, Đỗ Thị V gửi đến giám định.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo không phải là người nghiện ma túy, không có trong danh sách nghiện quản lý tại địa phương.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) phong bì màu trắng dán kín đựng vật chứng hoàn trả sau giám định; 01 (một) bật lửa gas màu vàng; 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0867037822 của Đỗ Thị V; 01 (một) điện thoại Iphone 13 màu trắng cũ, đã qua sử dụng gắn sim số 0338041123 của Lò Thị T2; 01 (một) điện thoại Iphone x màu trắng cũ, đã qua sử dụng không gắn sim của Nguyễn Minh Đ1 là vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản, thi hành theo bản án.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSHL ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Đỗ Thị V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lò Thị T2, Đặng Văn Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Đỗ Thị V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố các bị cáo: cáo Lò Thị T2, Đặng Văn Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Mức hình phạt áp dụng: Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Đỗ Thị V, mức phạt từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/04/2024.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Lò Thị T2 mức phạt từ 07 năm tù đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/04/2024.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với Đặng Văn Đ mức phạt từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/04/2024.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập không ổn định; bị cáo Đ chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa và số ma túy còn lại sau giám định tất cả được đựng trong phong bì niêm phong và 01 bật lửa ga; tịch thu sung quỹ ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Polime mệnh giá 20.000₫ đựng cùng một phong bì niêm phong; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0867037822 của Đỗ Thị V; 01 điện thoại Iphone 13 màu trắng cũ, đã qua sử dụng gắn sim số 0338041123 của Lò Thị T2; 01 điện thoại Iphone x màu trắng cũ, đã qua sử dụng không gắn sim của Nguyễn Minh Đ1.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQUBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Đỗ Thị V, Lò Thị T2, Đặng Văn Đ không có ý kiến, quan điểm tranh luận về tội danh và về mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn Đ đề nghị HĐXX xem xét hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được hưởng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng trên.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai báo và nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến, phù hợp với nội dung của các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX, đủ căn cứ kết luận: Từ khoảng 01 giờ 30 phút đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 07/04/2024, tại phòng 201 nhà nghỉ K2 thuộc thôn M, xã M, huyện HĐỗ Thị V, Lò Thị T2Đặng Văn Đ, sinh ngày 11/10/2006, là người dưới 18 tuổi đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H đã phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ tang vật theo quy định. Tại bản kết luận giám định số 1507/KL-KTHS ngày 12/04/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận:

  • 01 (một) viên nén màu xám của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0.395g (không phẩy ba chím lăm gam) loại: MDMA.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamin.
  • Chất tinh thể trắng bám dính bên trong 02 (hai) túi ni long màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamin.
  • Tìm thấy chất ma túy loại: Ketamin bám dính bên trong ống hút và trên mặt thẻ cứng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 1535/KL-KTHS ngày 15/04/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA, Ketamin trong mẫu nước tiểu ghi thu của: Đặng Văn Đ, Lò Thị T2, Đỗ Thị V, Nguyễn Minh Đ1 gửi đến giám định.

Như vậy, hành vi của Đỗ Thị V, Lò Thị T2, Đặng Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Trong đó hành vi của bị cáo Đỗ Thị V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Lò Thị T2Đặng Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất của vụ án, do hành vi phạm tội của các bị cáo gây nên: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; ma túy và các tệ nạn xã hội khác từ ma túy đang là mối hiểm họa, làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người; làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật của nhà nước, xâm phạm tới an ninh trật tự và an toàn xã hội, xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của BLHS để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Xét về hành vi phạm tội, vai trò và trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, mặc dù có nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp “ Phạm tội có tổ chức”, mà chỉ là trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Đỗ Thị V là người chuẩn bị ma túy, chuẩn bị công cụ, xào và chia ma túy thành các viên, đường nhỏ để các bị cáo sử dụng, nên có vai trò thứ nhất; bị cáo Lò Thị T2 là người nói Đặng Văn Đ rủ anh Nguyễn Minh Đ1 đến sử dụng ma túy và trực tiếp đưa ma túy cho Đ1 sử dụng nên có vị trí, vai trò thứ hai; bị cáo Đặng Văn Đ là người rủ anh Đ1 đến sử dụng ma túy nên có vị trí, vai trò cuối cùng.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Trong vụ án cả 03 bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt: Từ những nhận định trên, HĐXX nghĩ cần lên cho các bị cáo mức hình phạt nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo, nhưng HĐXX cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để lượng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội. HĐXX xét thấy bị cáo Đặng Văn Đ khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi phạm tội, nên cần áp dụng những quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Mục 1, 4 chương XII của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Đỗ Thị VLò Thị T2 làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[7]. HĐXX cũng xem xét trong vụ án và nhận định:

Đối với anh Nguyễn Minh Đ1 không tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà chỉ sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính theo quy định là phù hợp.

Bị cáo Đỗ Thị V khai nhận đã mua ma túy của anh Lê Xuân B, sinh năm 1995 tại khu T, thị trấn H, huyện H, quá trình điều tra không đủ căn cứ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Văn K chủ nhà nghỉ K2 không biết việc các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là do thiếu trách nhiệm trong quản lý đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính theo quy định là phù hợp.

[8].Về xử lý vật chứng: HĐXX nhận thấy cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp ngân sách nhà nước những vật, tiền, dụng cụ, phương tiện trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định tại Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

[9].Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của các bị cáo là xin HĐXX cho các bị cáo mức án thấp để các bị cáo chấp hành và cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và địa phương làm công dân chấp hành pháp luật tốt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời trình bày có trong hồ sơ vụ án là trung thực, những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình; đối với người chứng kiến; lời khai, lời trình bày có trong hồ sơ vụ án là phù hợp và trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH-14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Đỗ Thị V.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Lò Thị T2.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với Đặng Văn Đ.

Tuyên bố:

Bị cáo Đỗ Thị V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Lò Thị T2Đặng Văn Đ phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Đỗ Thị V 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/04/2024.

Xử phạt: Bị cáo Lò Thị T2 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/04/2024.

Xử phạt: Bị cáo Đặng văn Đ2 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/04/2024.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) có trong phong bì màu trắng dán kín hoàn trả (mẫu vật) sau giám định; 01 điện thoại Iphone 15 Pro max màu đen, cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0867.037.822 của Đỗ Thị V, 01 điện thoại Iphone 13 màu trắng hồng, cũ đã qua sử dụng, gắn sim số 0338.041.123 của Lò Thị T2; 01 điện thoại Iphone X màu trắng, cũ đã qua sử dụng, không gắn sim số của Nguyễn Minh Đ1. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng dán kín bên trong có chứa mẫu vật sau giám định; 01 bật lửa gas màu vàng (cũ). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp mỗi bị cáo 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - CA huyện Hậu Lộc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tạ Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger