|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 11 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Chạc.
- Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2024/QĐST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P - Sinh năm 1992 tại tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị T1, sinh năm 1969, cả hai hiện đang ở xã N, N, Nam Định; Vợ: Đỗ Thị Kim U, sinh năm 1996, hiện là giáo viên trường tiểu học P1, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, con: Chưa có. Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Không.
Bị cáo Nguyễn Văn P được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 06/02/2024 cho đến nay.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Trần Thị S – Sinh năm: 1947;
- Chị Trần Thị T2 – Sinh năm 1969;
- Chị Trần Thị B – Sinh năm 1980;
- Anh Trần Anh Đ – Sinh năm 1989;
- Bà Đàm Thị N – Sinh năm 1951;
- Chị Trần Thị Thanh H – Sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: B, M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Nơi cư trú: 170A, khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Số B, đường số A, KDC đường A, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số B L, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn T3 – Sinh năm 1948;
- Công ty cổ phần R;
Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần R là anh Nguyễn Văn L – Sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Người làm chứng:
- Ông Vũ Xuân C – Sinh năm: 1951;
- Bà Vũ Thị C1 – Sinh năm: 1965;
Tại phiên toà có mặt bị cáo; vắng mặt đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 30/12/2023, Nguyễn Văn P đã có giấy phép lái xe hạng B2, điều khiển xe ô tô biển số 29H-635.30, đi từ thôn T, xã N về nhà ở xã N trên đường trục xã N theo hướng từ N lên B. Khi đi đến ngã tư giao với đường D thuộc xã N, N, đã va chạm với xe đạp điện do ông Trần Ngọc S1, sinh năm 1944, trú tại: thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An, điều khiển trên đường dong thôn đi từ T sang Đ làm ông S1 ngã xuống đường. Hậu quả: Ông S1 bị thương vùng đầu, cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện N, cơ sở N1 và Bệnh viện T4, thành phố Hà Nội, đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, tử vong. Hai phương tiện bị hư hỏng. Sau khi xảy ra tai nạn, Nguyễn Văn P đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Trần Ngọc S1 số tiền 90.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm.
Khám nghiệm hiện trường, phương tiện có một số vết chính sau:
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại ngã tư giao nhau giữa đường trục xã N với đường dong thuộc thôn T, xã N, N. Đường trục xã hướng Bắc - Nam, mặt đường rộng 5,5m rải nhựa bằng phẳng; lề đường phía Đông rộng 0,4m tiếp giáp là mương tiêu nước; lề đường phía Tây rộng 0,4m tiếp giáp là khu dân cư. Đường dong thôn T, hướng Đ; phần phía Tây (đường trong khu dân cư) rộng 4m, mặt đường đổ bê tông bằng phẳng; phần phía Đông là cầu qua mương tiêu nước nối đường cánh đồng thôn T. Biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (207a) nằm ở lề phía Đông đường trục xã cách ngã tư về phía Nam là 34m. Hiện trường không còn nguyên vẹn do Nguyễn Văn P điều khiển xe ô tô 29H- 635.30 đưa ông Trần Ngọc S1 đi cấp cứu và do người, phương tiện di chuyển trên đường. Các dấu vết trên hiện trường: Xe ô tô biển số 29H- 635.30 dừng trên mặt đường trục xã giữa ngã tư. Đầu xe hướng Bắc, khoảng cách từ trục bánh trước bên trái đến mép đường phía Tây đường trục xã là 2,2 m, đến mép phía Nam đường dong xóm là 3,4m và đến điểm cố định của hiện trường là 2,7m; khoảng cách từ trục bánh sau bên trái đến mép phía Tây đường trục xã là 2,2m, đến mép phía Nam đường dong xóm là 0,4m. Xe đạp điện đổ nghiêng bên trái trên đường trục xã; đầu xe hướng Đ, đuôi xe hướng Tây Nam; khoảng cách từ trục bánh trước đến mép phía Tây đường trục xã là 1,8m và đến mép phía Nam đường dong xóm là 6,1m; khoảng cách từ trục bánh sau xe đến mép phía Tây đường trục xã là 1,7m và đến mép phía Nam đường dong xóm là 5m, đến trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số 29H-635.30 là 1,7m. Có một đám máu kích thước (0,4x0,3)m; tâm đám máu cách mép phía Tây đường trục xã là 1,4m, cách mép phía Nam đường dong xóm là 4,8m và cách trục bánh sau xe đạp điện là 0,4m. Khám nghiệm phương tiện:
Phần đầu cản trước bên trái của xe ô tô biển số 29H- 635.30 có bóp méo biến dạng kích thước (24x16)cm chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải; tâm cách mặt đất 45cm. Trên bề mặt có nhiều vết xước sơn chiều hướng từ trái qua phải, vùng tỳ xước sơn có kích thước (23x16) cm tâm cách mặt đất 45 cm, cách điểm ngoài cùng thành xe bên trái 40cm. Ốp nhựa đèn sương mù, xin nhan bên trái bị đẩy từ trước về sau, làm bật khớp nối chắn bùn bên trái. Hệ thống lái, phanh, đèn chiếu sáng, đèn xin đường còn hiệu lực. (Bút lục số: 14-15, 25-28)
Tại vị trí khung thanh sắt nối khung thân xe đạp điện bên phải trên bề mặt có nhiều vết tỳ xước kim loại chiều hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới kích thước (33x1,5)cm, trên bề mặt rải rác chất sơn màu đen. Bề mặt ngoài lò xo giảm sóọc bên phải có nhiều vết tỳ trượt kim loại kích thước (1,5x1,2)cm chiều hướng từ trước về sau; trên bề mặt có dính sơn màu trắng. Giỏ xe bên trái phía trước móp méo biến dạng, đẩy từ trước về sau, từ phải qua trái kích thước (17x10) cm trên bề mặt có vết trầy xước nhựa. Đầu ống kim loại trục bàn để chân bên trái xe có vết tỳ xước kim loại kích thước (2,1x2)cm trên bề mặt có dính chất bột màu trắng. Vỡ ống đèn xi nhan bên trái phía sau, bề mặt ngoài của đui đèn xi nhan có vết tỳ xước nhựa kích thước (3,22x2,2)cm. Hệ thống lái, phanh còn hiệu lực.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 198/KLGĐTT-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Ông Trần Ngọc S1 chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ. Cơ chế: Vùng đầu do va đập.
Kết quả điều tra xác định: Vị trí xảy ra tai nạn tại phần đường phía Tây đường trục xã N, phía Đông Nam vết máu loang kích thước (0,4x0,3)m trên mặt đường. Điểm va chạm giữa hai phương tiện là phần đầu cản trước bên trái xe ô tô biển số 29H-635.30 với phần trục giảm sóc phía sau bên phải của xe đạp điện. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn qua hơi thở của Nguyễn Văn P là 0,000mg/lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất kích thích của Nguyễn Văn P: Âm tính với các chất ma túy.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông: Ông Trần Ngọc S1 điều khiển xe đạp điện không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ. Nguyễn Văn P điều khiển xe ô tô không đi đúng phần đường, không chú ý quan sát, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2019, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 02/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay đại diện VKSND huyện Nghĩa Hưng đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như đã nêu trên. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo . Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ ngày 30/12/2023, Nguyễn Văn P điều khiển xe ô tô biển số 29H-635.30, đi từ xã N đến xã N, N, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường trục xã N và đường dong thuộc thôn T, N, N, do không đi đúng phần đường, không chú ý quan sát, đã va chạm vào xe đạp điện do ông Trần Ngọc S1 điều khiển đi theo hướng từ T sang Đ. Hậu quả: Ông Trần Ngọc S1 bị thương vùng đầu, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T4, đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì tử vong. Vì vậy, hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng truy tố bị cáo ra trước tòa án để xem xét với tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn P đã cùng với gia đình bồi thường đầy đủ trách nhiệm dân sự cho đại diện hợp pháp của người bị hại. Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; những người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn P, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có thể cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, Nguyễn Văn P đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 90.000.000 đồng và những người đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu bồi thường về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn P.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với xe ô tô biển số 29H-635.30, qua điều tra xác định là của Công ty cổ phần R, địa chỉ đường P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Công ty R không đề nghị gì về việc khắc phục, sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho xe ô tô. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, ở xóm T, N, N, đại diện theo ủy quyền, là phù hợp.
Đối với xe đạp điện là của ông Trần Văn T3, sinh năm 1948, ở thôn A, N, N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho ông T3 là phù hợp. Ông T3 không đề nghị về việc khắc phục, sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho xe đạp điện nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[8] Đối với ông Trần Ngọc S1 điều khiển xe đạp điện không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ, nhưng ông S1 đã chết nên không xem xét xử lý là phù hợp.
[9] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 100 của Luật Thi hành án Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Dương |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P - "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
