Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11 - 01 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Lợi;
  2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1026/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 659/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 518/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Tô Hồng P, sinh năm: 1995 (Có mặt);
    Nơi thường trú: Số H T, tổ E, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Bà Phạm Vũ Tất Mai T, sinh năm: 1995 (Vắng mặt).
    Nơi thường trú: Số A B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 13/9/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là ông Tô Hồng P trình bày:

Ông và bà Phạm Vũ Tất Mai T tự nguyện xây dựng gia đình năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/12/2016. Sau khi xây dựng gia đình, ông và bà T sinh sống bên gia đình ông, sống hạnh phúc đến năm 2020 khi ông đi lao động hợp tác ở N thì bà T ở nhà có quan hệ với người đàn ông khác và có con riêng, đến giữa năm 2020 bà T dọn về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay, bà T đồng ý ly hôn nhưng không chịu đến Tòa án để ký giấy tờ, ông nhận thấy hiện tại ông và bà T không còn sống chung, không còn tình cảm và đã ly thân gần 03 năm nay nên ông yêu cầu giải quyết cho ông ly hôn với bà T.

Ông và bà T có 01 con chung tên Tô Phạm Thanh T1, sinh ngày 07/01/2017, ông yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung vì cháu T1 đã sống với ông từ nhỏ, không sống với mẹ, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không có.

* Bị đơn là bà Phạm Vũ Tất Mai T vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 13/9/2023, ông Tô Hồng P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho ông ly hôn với bà Phạm Vũ Tất Mai T, con chung có 01 cháu ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là bà Phạm Vũ Tất Mai T hiện đang cư trú tại địa chỉ số A B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Đa Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng:

Bị đơn là bà Phạm Vũ Tất Mai T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (cậu của bà T là ông Mai Văn D nhận thay các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn không đến Tòa án, do đó Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt bà T heo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Ông Tô Hồng P và bà Phạm Vũ Tất Mai T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2016, ngày 17/12/2019 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét trình bày của ông P thì ông và bà T tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2016, sống hạnh phúc bên gia đình ông đến năm 2020 khi ông đi hợp tác lao động ở N thì bà T có quan hệ với người đàn ông khác và có con riêng, cũng trong năm 2020 bà T đã về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay, bà T đồng ý ly hôn nhưng không muốn đến Tòa án, do bà T đã có người đàn ông khác, hai bên không thể hàn gắn nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Xét bà T không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, điều đó cho thấy bà T không còn muốn duy trì quan hệ vợ chồng cùng với ông P, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do ông P cung cấp, nhận thấy tình trạng quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông P được ly hôn với bà T là có cơ sở.

[4] Về con chung:

Ông P và bà T có 01 con chung tên Tô Phạm Thanh T1, sinh ngày 07/01/2017, bà T không đến Tòa án để có ý kiến về con chung, hiện cháu T1 đang sống cùng ông P, để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của ông P, không trái pháp luật nên ghi nhận sự tự nguyện này. Trường hợp sau này ông P có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.

[5] Về tài sản chung:

Ông P xác định giữa ông và bà T không có tài sản chung.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung:

Ông P xác định giữa ông và bà T không có nợ chung.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc ông P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 9, Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
    Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Tô Hồng P về việc cho ly hôn giữa ông Tô Hồng P và bà Phạm Vũ Tất Mai T.
    Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2016, ngày 17/12/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
  2. Về con chung:
    Ông P và bà T có 01 con chung tên Tô Phạm Thanh T2, sinh ngày 07/01/2017.
    Giao cháu T2 cho ông P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
    Ghi nhận sự tự nguyện của ông P về việc tạm thời không yêu cầu bà T2 cấp dưỡng nuôi con.
    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
  3. Về tài sản chung: Ông P xác định không có.
  4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông P xác định không có.
  5. Về án phí sơ thẩm:
    Ông P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2023/0018118 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Ông P đã nộp đủ án phí.
    Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
  6. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger