Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 10-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc

Ông Lê Văn Bé

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về thay đổi thời gian xét xử số: 07/TB-TA ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Vũ L, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Thu N, sinh năm 1968 (chết); chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 05/01/2024; tạm giam: Ngày 11/01/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  1. Ngô Trung K, sinh năm 1996 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Mai Phước T, sinh năm 1999 (vắng mặt).
  4. 3. Nguyễn Văn P, sinh năm 1967 (vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 04/01/2024 Phạm Vũ L điều khiển xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn xám - đen, biển số 67M1 - 624.77 đi từ xã P, huyện T đến nhà Mai Phước T, sinh năm 1999, nơi cư trú ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, L đến nhà T thấy T đang nằm ngủ nên L lấy điện thoại NOKIA, màu đen, loại nút bấm của L điện thoại cho Nguyễn Thanh P1 (tên gọi khác H1) hỏi mua ma túy, địa điểm giao tại miệng cống nước thuộc địa phận xã A, huyện T lấy ma túy trong vỏ gói thuốc Jet và để 600.000 đồng vào vỏ hộp thuốc Jet, cất lại vị trí cũ. L lấy ma túy xong cất vào hộp nhựa màu đen, để vào ngăn giữa túi đeo trước ngực lên xe điều khiển chạy về nhà T, L vào trong buồng nhà T nằm bấm điện thoại sau đó ngủ quên. Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 04/01/2024, lực lượng Công an xã P, huyện T tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật liên quan.

Tang vật thu giữ chưa xử lý gồm: 05 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy sau khi giám định là 0,498 gam được niêm phong số 24 ngày 04/01/2024, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ và chữ ký niêm phong, ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Huỳnh Trung C và Phạm Vũ L; 01 túi đeo chéo bằng vải, màu đen (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên trong (cân bằng nhựa màu đen); 01 hộp nhựa hình vuông, màu trắng, bên trong có chứa nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc, được hàn kín một đầu. Các vật chứng nêu trên do L dùng vào việc phạm tội và không còn sử dụng được.

01 giấy đăng ký xe môtô giả số 207638, do Trần Minh H2, nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu; 01 bình nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng và một ống thủy tinh có hình cầu bị bể của Mai Phước T dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 điện thoại di động, hiệu NOIKA (đã qua sử dụng) của L dùng để liên lạc mua ma túy; 01 xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn đen - trắng, gắn biển số 67M1 - 624.77 của L dùng để đi mua ma túy và qua giám định số, ký tự máy trước và sau bị tẩy xóa hoàn toàn.

Tang vật thu giữ đã xử lý gồm: 01 điện thoại hiệu Iphone (đã qua sử dụng) của Phạm Vũ L; 01 điện thoại hiệu Samsung (đã qua sử dụng) của Mai Phước T. Qua quá trình kiểm tra các điện thoại trên không phát hiện liên quan đến việc tàng trữ hoặc mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho L và T nhận theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 05/4/2024 xong. Đối với 01 bộ bình nhựa màu trắng, nắp màu đỏ trên nắp có gắn 01 ống nhựa màu trắng và 01 ống thuỷ tinh có hình cầu bị bể, trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Công an xã P để xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T.

Kết luận giám định số: 23/KL-KTHS, ngày 08/01/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 05 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng là 0,621, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ).

Qua test nhanh chất ma túy trong cơ thể của Phạm Vũ L, kết quả dương tính với chất ma túy theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 04/01/2024 của Công an xã P.

Kết luận giám định số: 69/KL-KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ, kết luận: Xe mô tô, màu sơn xám – đen, kiểu dáng Exciter, biển số 67M1-624.77 gửi đến giám định có số, ký tự khung và máy đều bị thay đổi. Cụ thể: Số, ký tự khung bị tẩy xóa, sau giám định được đọc lại: “RLCE1S9407Y013794”; Số, ký tự máy trước và sau giám định: Bị tẩy xóa hoàn toàn.

Kết luận giám định số 88/KL-KTHS, ngày 19/01/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ kết luận: Giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 207638, tên chủ xe: Trần Minh H2 là giả.

Đối với xe mô tô biển số 67M1-624.77 Linh mua của người lạ (không rõ họ tên, địa chỉ) tại tỉnh An Giang có giấy đăng ký xe số 207638 do Trần Minh H2 đứng tên chủ sở hữu với giá 9.000.000 đồng, sử dụng đến cuối năm 2022 do móc gắn biển số xe bị hỏng nên L tháo biển số xe 67M1-624.77 để ở nhà, sau đó L cho bạn (do lâu nên không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) mượn xe không biển số trên để điều khiển (chỉ cho mượn xe, không cho mượn giấy đăng ký xe), khi bạn L điều khiển do xe không có biển số và không giấy đăng ký nên bị lực lượng Cảnh sát giao thông tạm giữ, không biết Cảnh sát giao thông huyện hay tỉnh nào.

Đến tháng 11/2023 L quen biết và thấy giá xe thấp nên có mua xe mô tô không có giấy tờ của Ngô Trung K (tên gọi khác L1), ngụ xã P, huyện T với giá 12.000.000 đồng. Sau đó, L lấy biển số 67M1-624.77 của xe trước đó gắn vào xe mới mua để sử dụng đi mua ma túy về sử dụng và bị bắt quả tang. Ngô Trung K (tên gọi khác L1) thừa nhận có bán xe mô tô trên như lời L trình bày, nhưng xe mô tô trên do T1 (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) nhờ K bán dùm (xe không có giấy tờ, biển số mấy K không nhớ), K có kêu T1 đưa giấy tờ xe nhưng T1 nói chưa tìm được người mua nên không đưa và K không hỏi nữa. Khi bán được xe cho L, do L chưa trả đủ tiền nên K chưa liên hệ T1 đưa giấy xe chính chủ cho L. K biết phương tiện trên không phải do phạm tội mà có nhưng thuộc quyền sở hữu của ai thì K không biết.

Do xe mô tô trên chưa làm rõ nguồn gốc nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn xử lý theo pháp luật: 01 xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn đen - trắng, biển số 67M1 - 624.77 của L dùng để đi mua ma túy và qua giám định số, ký tự máy trước và sau bị tẩy xóa hoàn toàn.

Qua tra cứu chủ phương tiện biển số 67M1 - 624.77, biển số trên được cấp cho phương tiện VARIO, màu sơn Đ - trắng của bà Trần Thị Như L2, địa chỉ ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, phương tiện hiện bà L2 đang sử dụng, không bị mất trộm.

Đối với hành vi sử dụng phương tiện và giấy tờ giả, trong quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xử lý đối với Phạm Vũ L về hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã tách vụ việc này để tiến hành điều tra, xác minh làm rõ nên đề nghị không xem xét trong vụ án này.

Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKSTN ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Phạm Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Vũ L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mức hình phạt từ 01 năm đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 05 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy sau khi giám định là 0,498 gam được niêm phong số 24 ngày 04/01/2024, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ và chữ ký niêm phong, ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Huỳnh Trung C và Phạm Vũ L; 01 túi đeo chéo bằng vải, màu đen (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên trong (cân bằng nhựa màu đen); 01 hộp nhựa hình vuông, màu trắng, bên trong có chứa nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc, được hàn kín một đầu; 01 giấy đăng ký xe môtô giả số 207638, do Trần Minh H2, nơi cư trú ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại NOIKA đã qua sử dụng của L dùng để liên lạc mua ma túy.

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn xử lý theo pháp luật: 01 xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn đen - trắng, biển số 67M1 - 624.77 của L dùng để đi mua ma túy và qua giám định số, ký tự máy trước và sau bị tẩy xóa hoàn toàn.

Các vấn đề khác giữ nguyên đề nghị theo cáo trạng.

Bị cáo Phạm Vũ L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng K, T, P vắng mặt tại phiên toà, không có lý do. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có ghi lời khai của những người làm chứng trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản ảnh ngày 04/01/2024 của Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Kết luận giám định số: 23/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ; Lời khai người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/01/2024 bị cáo Phạm Vũ L sử dụng điện thoại NOKIA, màu đen, loại nút bấm của bị cáo điện thoại hỏi mua ma tuý của Nguyễn Thanh P1 (tên gọi khác H1) với giá 600.000 đồng, mục đích để sử dụng. Địa điểm giao ma tuý tại miệng cống nước ngang lộ thuộc xã A, huyện T, Đồng Tháp. P1 đã giao ma tuý cho L, L nhận xong cất ma tuý vào hộp nhựa màu đen, để vào ngăn giữa túi đeo trước ngực, L đã thanh toán tiền cho P1 xong. Phương tiện L sử dụng để đi mua ma tuý và điều khiển xe chạy về nhà T là môtô biển kiểm soát số 67M1 - 624.77, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn xám – đen. Sau đó, L về nhà T ngụ ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành thu giữ tang vật. Theo Kết luận giám định 23/KL-KTHS ngày 08/01/2024 thể hiện: Tinh thể rắn trong 05 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu gửi giám định là chất ma túy có trọng lượng 0,621 gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi phạm tội của L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Hành vi của bị cáo xem thường pháp luật đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý sẽ gây hậu quả rất lớn cho bản thân, gia đình, xã hội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng phòng ngừa, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp làm thuê thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone (đã qua sử dụng) của bị cáo Phạm Vũ L; 01 điện thoại hiệu Samsung (đã qua sử dụng) của Mai Phước T. Qua quá trình điều tra, xác định các điện thoại trên không phát hiện liên quan đến việc tàng trữ hoặc mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho bị cáo L và T nhận lại xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 05 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy sau khi giám định là 0,498 gam được niêm phong số 24 ngày 04/01/2024, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ và chữ ký niêm phong, ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Huỳnh Trung C và Phạm Vũ L; 01 túi đeo chéo bằng vải, màu đen (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên trong (cân bằng nhựa màu đen); 01 hộp nhựa hình vuông, màu trắng, bên trong có chứa nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc, được hàn kín một đầu; 01 giấy đăng ký xe môtô giả số 207638, do Trần Minh H2, nơi cư trú ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu. Xét thấy, các vật chứng trên là chất ma túy, bị cấm tàng trữ và có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại NOIKA đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của bị cáo L được dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn đen - trắng, biển số 67M1 - 624.77 của bị cáo L. Quá trình điều tra, bị cáo L khai mua xe mô tô không có giấy tờ của Ngô Trung K, ngụ xã P, huyện T với giá 12.000.000 đồng, K thừa nhận có bán xe mô tô trên cho bị cáo L dùm cho người tên T1, không rõ họ tên và địa chỉ. Đồng thời, K chưa liên hệ với T1 để giao giấy tờ xe cho bị cáo L, do bị cáo L chưa trả tiền đủ. Qua kết quả xác minh tra cứu: Biển số 67M1 - 624.77 được cấp cho phương tiện VARIO, màu sơn Đ - trắng của bà Trần Thị Như L2, địa chỉ ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, phương tiện hiện bà L2 đang sử dụng, không bị mất trộm (theo Biên bản xác minh ngày 24/02/2024 của Công an huyện T). Bên cạnh đó, căn cứ vào Kết luận giám định số: 69/KL-KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Xe mô tô, màu sơn xám – đen, kiểu dáng Exciter, gắn biển số 67M1-624.77 gửi đến giám định có số, ký tự khung và máy đều bị thay đổi. Cụ thể: Số, ký tự khung bị tẩy xóa, sau giám định được đọc lại: “RLCE1S9407Y013794”; Số, ký tự máy trước và sau giám định: Bị tẩy xóa hoàn toàn. Xét thấy, xe mô tô trên chưa đủ căn cứ xem xét xử lý trong vụ án nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc xe mô tô trên, khi nào làm việc được rõ nguồn gốc sẽ xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Đối với hành vi sử dụng phương tiện và giấy tờ giả của L, trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ xử lý L về hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tách ra để tiến hành điều tra, xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[8] Đối với Nguyễn Thanh P1 (tên gọi khác Hắc), ngụ ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. L khai Phương là người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng P1 không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ (Biên bản xác minh ngày 15/01/2024 và ngày 29/01/2024) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hành vi nêu trên để tiếp tục điều tra xác minh, khi có kết quả sẽ xem xét xử lý bằng một vụ án khác.

[9] Đối với Mai Phước T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ và tang vật là 01 bình nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng và một ống thủy tinh có hình cầu bị bể, T dùng để sử dụng trái phép chất ma túy đến Công an xã P xử phạt hành chính theo quy định pháp luật nên không xem xét giải quyết.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Vũ L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 05 tháng 01 năm 2024.

  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy sau khi giám định là 0,498gam được niêm phong số 24 ngày 04/01/2024, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ và chữ ký niêm phong, ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Huỳnh Trung C và Phạm Vũ L; 01 (một) túi đeo chéo bằng vải, màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên trong (cân bằng nhựa màu đen); 01 (một) hộp nhựa hình vuông, màu trắng, bên trong có chứa nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc, được hàn kín một đầu; 01 (một) giấy đăng ký xe môtô giả số 207638, do Trần Minh H2, nơi cư trú ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu.
    2. Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc, xử lý theo quy định pháp luật: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn xám – đen, biển số 67M1-624.77, số, ký tự máy trước và sau bị tẩy xóa hoàn toàn.
    3. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại NOIKA đã qua sử dụng.
    4. (Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  5. Bị cáo Phạm Vũ L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - CQ CSĐT CA H. Tam Nông;
  • - CQ THAHS CA H. Tam Nông;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký)

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger