Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 9 năm 2024

V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
  • * Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Bà Nguyễn Thị Tin.
    • 2. Ông Đào Xuân Thịnh.
  • * Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng.
  • * Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng S - Kiểm sát viên.

Trong ngày 9 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1996 (vắng mặt)
  • Cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  • Cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • Nơi ở tạm: Xóm X, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 16/4/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lương Thị H trình bày:

Chị và anh Phùng Văn T kết hôn ngày 09/7/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị và anh T về chung sống với nhau tại gia đình chị ở: Thôn V, xã Đ, huyện Y. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 11/2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ tháng 5/2021 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện Yên Dũng giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Phùng Lương Tuấn N, sinh ngày 22/8/2015. Ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi con chung. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con chung. Hiện nay chị làm lao động tự do với mức thu nhập là 10.000.000 đồng/tháng. Từ khi ly thân đến nay thì chị là người nuôi con chung và chi phí ăn, học cho con chung là cháu N ổn định.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Phùng Văn T đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T không có mặt để làm việc với Tòa án về những vấn đề liên quan vụ án mà Anh T là bị đơn. Tại phiên tòa, anh Phùng Văn T vắng mặt.

* Tại biên bản xác minh ngày 19/6/2024, ông Lê Đức C – Trưởng thôn Việt Thắng L cho biết: Chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T là vợ chồng và là công dân của địa phương, chung sống và cư trú tại: thôn V, xã Đ, huyện Y. Chị H và anh Phùng Văn T kết hôn năm 2015. Sau khi kết hôn thì chị H. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế. Hiện nay chị H, anh T sống ly thân.

* Tại biên bản xác minh ngày 19/6/2024, bà Trần Thị L1 là mẹ đẻ chị Lương Thị H cho biết: Chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn thì chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T sinh sống và cư trú tại: thôn V, xã Đ, huyện Y. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế. Năm 2021 chị H, anh T sống ly thân.

Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng chị H, Anh T đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có văn bản giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chưa đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không chấp hành.

Về nội dung vụ án: Anh Phùng Văn T không có mặt tại địa phương nên không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng theo Điều 35, Điều 39 BLTTDS. Đề nghị không chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lương Thị H. Viện kiểm sát không phát biểu quan điểm đối với vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại Văn bản xác nhận thông tin về cư trú ngày 19/6/2024 của Công an xã Đ, huyện Y (BL 44) và Biên bản xác minh ngày 23/7/2024 tại Công an xã Đ, huyện Y thì Cơ quan có thẩm quyền là Công an xã Đ, huyện Y cung cấp: Anh Phùng Văn T hiện cư trú, đăng ký thường trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện Y. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh T tại nơi cư trú, thường trú và gửi bảo đảm các văn bản tố tụng về nơi ở tạm của anh T tại: Xóm X, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhưng anh T không có mặt tại Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng để làm việc và không tham gia phiên tòa nên phải chịu hậu quả pháp lý. Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử là đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với anh Phùng Văn T nhưng vắng mặt. Nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 47/2024/QĐ-CCTLCC ngày 04/5/2024 về việc yêu cầu anh T cung cấp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung, công nợ, liên quan đến tranh chấp hôn nhân và gia đình, bản tự khai trình bày quan điểm về: quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, công nợ và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án cho anh Phùng Văn T nhưng anh Phùng Văn T không có mặt để làm việc với Tòa án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên phải chịu hậu quả pháp lý.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa Chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, anh chị có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống và làm ăn kinh tế. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Chị H thấy không thể duy trì hôn nhân với anh T được, là quyền của chị H xin ly hôn. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị H, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Phùng Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T có 01 con chung là Phùng Lương Tuấn N, sinh ngày 22/8/2015. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự nhất là quyền lợi mọi mặt của trẻ em.

Xét điều kiện nuôi con thấy: Từ lúc ly thân tháng 5/2021 đến nay thì Lương Thị H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phùng Lương Tuấn N. Hiện cháu N được ăn học, đang phát triển bình thường, ổn định và giữa chị H, anh T không có ý kiến bằng văn bản tranh chấp về nuôi con chung. Chị H có thu nhập, nơi ở ổn định đảm bảo cuộc sống và đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu N và sự phát triển tâm sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc. Nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng của chị H. Cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con chung của chị H như hiện nay là phù hợp nguyện vọng của cháu Phùng Lương Tuấn N. Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Phùng Lương Tuấn N, sinh ngày 22/8/2015 là đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu Phùng Lương Tuấn N và phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh Phùng Văn T không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phùng Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lương Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị H được ly hôn anh Phùng Văn T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phùng Lương Tuấn N, sinh ngày 22/8/2015.
  3. Anh Phùng Văn T không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phùng Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  4. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lương Thị H và anh Phùng Văn T không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.
  5. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Chị Lương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0005613 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chị Lương Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang,
  • - VKSND huyện Yên Dũng,
  • - Chi cục THADS Yên Dũng,
  • - UBND xã Đại Hóa,
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ánh Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lương Thị H xin ly hôn anh Phùng Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger