|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày 09-7-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và bà Hoàng Thị Mỵ.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Thảo– Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 26/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn L, sinh năm 1975 tại tỉnh Long An; nơi ĐKHKTT: TỔ 1, ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: bon M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; T giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn D và bà Huỳnh Thị Th (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ ngày 27/3/2024, sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Glong. Có mặt
- Bị hại: anh Nguyễn Văn T – sinh năm 1992. Vắng mặt
Địa chỉ: Bon M1, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Phan Thị Thu H; sinh năm 1987; địa chỉ: bon M1, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn L (sinh năm 1975) đăng ký thường trú tại tổ 1, ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai. Năm 2001, L đến sinh sống, làm thuê tại xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 27/3/2024, L đi bộ ngang qua Đại lý thu mua nông sản Nguyễn T của anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1992) thuộc bon B'Dơng, xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông và ngồi nghỉ chân ở ghế đá trước Đại lý. Lúc này, L quan sát thấy bên trong Đại lý có nhiều bao đựng hạt hồ tiêu khô mà không có ai trông coi, quản lý nên L nảy sinh ý định trộm cắp bao hồ tiêu khô mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 05 phút sau, L lén lút đi vào bên trong Đại lý, vác 01 bao hạt hồ tiêu khô đi bộ ra hướng Quốc lộ 28 và đi về hướng xã Quảng Khê. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, L mang bao hạt hồ tiêu khô trộm cắp được, đến Đại lý phân bón thu mua nông sản Khôi Nguyên của chị Phan Thị Thu H (sinh năm 1987) thuộc bon B'rê B, xã Đắk Som. Tại đây, L nói với chị H bao hạt hồ tiêu khô được người dân cho thu mót nên mang đi bán. Nghe vậy, chị H đồng ý mua và tiến hành cân bao hạt hồ tiêu khô có trọng lượng 37,2 kg rồi đưa cho L số tiền 3.400.000 đồng. Sau khi bán xong, L đi bộ ra đường Quốc lộ 28 để bắt xe tẩu thoát thì bị anh T và người dân phát hiện, trình báo Cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ 01 bao hạt hồ tiêu khô có trọng lượng là 37,2 kg và số tiền 3.400.000 đồng. Sau đó L bị tạm giữ để xử lý theo quy định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Glong kết luận:
Giá trị của 37,2 kg hạt hồ tiêu khô tại ngày 27/3/2024 là 3.496.800 đồng (Ba triệu bốn trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm đồng).
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 06/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã truy tố bị cáo Mai Văn L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn L từ 06 đến 09 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị HĐXX Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 408/QĐ-CQĐT ngày 22/5/2024 trả lại 37,2 kg hạt hồ tiêu khô cho anh Nguyễn Văn T và số tiền 3.400.000 đồng cho chị Phan Thị Thu H là những chủ sở hữu hợp pháp.
Về phần trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Mai Văn L bồi thường.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 27/3/2024, tại Đại lý thu mua nông sản Nguyễn T của anh Nguyễn Văn T thuộc bon B'Dơng, xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, Mai Văn L lợi dụng sự sơ hở của của chủ sở hữu trong việc trông coi tài sản đã trộm cắp của anh T 01 bao hạt hồ tiêu khô có trọng lượng 37,2 kg, có giá trị tại thời điểm ngày 27/3/2024 là 3.496.800 đồng. Vì vậy HĐXX xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Mai Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, do muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu đã lén lút, bí mật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết T trọng tài sản của người khác và biết T trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu ngay sau đó. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì
vậy, HĐXX xét thấy cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 408/QĐ-CQĐT ngày 22/5/2024 trả lại 37,2 kg hạt hồ tiêu khô cho anh Nguyễn Văn T và số tiền 3.400.000 đồng cho chị Phan Thị Thu H là những chủ sở hữu hợp pháp.
[7] Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn T có đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[8] Đối với chị Phan Thị Thu H, khi mua hạt hồ tiêu khô của Mai Văn L, không biết hạt hồ tiêu khô là tài sản do L phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.
[10]. Về án phí: Bị cáo Mai Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mai Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
1. Xử phạt bị cáo Mai Văn L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ 27/3/2024.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 408/QĐ-CQĐT ngày 22/5/2024 trả lại 37,2 kg hạt hồ tiêu khô cho anh Nguyễn Văn T và số tiền 3.400.000 đồng cho chị Phan Thị Thu H là những chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Mai Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền
kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
