Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 07/08/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Ngọc Trung, bà Hà Thị Yến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Vào ngày 07/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 08/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 25/7/2024, đối với bị cáo:

Hà Văn Q. Giới tính: Nam. Sinh ngày 15/12/1989. Nơi cư trú: Bản Pan, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Xuân K, sinh năm 1950; Con bà: Hà Thị C, sinh năm 1950. Vợ: Trương Thị H, sinh năm 1992, có hai con, lớn nhất sinh năm 2016 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh T. (Có mặt).

- Người bị hại: Hà Văn P, sinh năm: 1947 và bà: Hà Thị O, sinh năm: 1958. Đều có địa chỉ: Khu E, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh: Hà Văn T, sinh năm: 1984; Trú tại: Bản P, xã P, huyện Q, Thanh Hóa (có mặt).

- Người làm chứng: Hà Văn N, sinh năm: 1988 và Hà Văn T1, sinh năm: 1986. Đều có địa chỉ: Bản K, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 10/01/2024 Hà Văn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12 nhãn hiệu HONDA màu đỏ, đen, trắng, bạc theo hướng từ xã P đi thị trấn H, huyện Q. Khi đến đoạn Km 32+550 QL15A thuộc địa phận bản T, xã P, huyện Q, vừa điều khiển xe, vừa ngoảnh mặt nhìn về phía sau, đến khi Q ngoảnh mặt lại phía trước thì xe đang đi lấn sang phần đường đi ngược chiều, ngay lúc này có ông Hà Văn P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36Z5-0491 chở theo bà Hà Thị Ó (là vợ của ông P) đang lưu thông theo hướng ngược lại, do khoảng cách quá gần Q không kịp xử lý nên hai xe đâm vào nhau gây tai nạn giao thông. Hậu quả Hai xe mô tô bị hư hỏng, cả ba người bị thương nặng, ông Hà Văn P và bà Hà Thị Ó được người thân trong gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó chuyển tuyến đến bệnh viện H1- Hà Nội, ông Hà Văn P ra viện ngày 31/01/2024, bà Hà Thị Ó ra viện ngày 19/01/2024. Còn Hà Văn Q được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T.

Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra tai nạn là tại Km 32+ 550 QL15A thuộc địa phận bản T, xã P, huyện Q là đoạn đường thẳng, mặt đường rải nhựa, dốc nhẹ lên khoảng 5% theo hướng từ thị trấn H đi xã P, huyện Q, mặt đường khô ráo, bằng phẳng; lòng đường rộng 7,32m, hai bên có vạch sơn màu trắng giới hạn mép ngoài phần đường xe chạy, ở giữa đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng, hai bên lề đường có rãnh thoát nước bằng bê tông. Đoạn đường không có chướng ngại vật trên đường, tầm nhìn không bị che khuất;

Tiến hành khám nghiệm hiện trường phát hiện: Vết máu loang trên mặt đường nhựa kích thước 0,6m x 0,65m (vết số 1); xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12 đổ nghiêng phải (vết số 2), xe mô tô biển kiểm soát 36Z5-0491 (vết số 8); Vết cà trượt không liên tục kích thước 1,85m x 0,01m, điểm đầu vết trùng với giá để chân trước bên phải xe mô tô 36H5-018.12, vết có chiều hướng Đông Bắc sang T (vết số 3); vết cà trượt không liên tục kích thước 2,07m x 0,02m, điểm đầu vết trùng với chân phanh xe mô tô 36H5-018.12, vết có chiều hướng Đông Bắc sang T (vết số 4); Vết cà trượt không liên tục kích thước 1,3m x 0,01m, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn (B) là 3,98m, điểm cuối vết cách (B) là 4,15m, vết có chiều từ Bắc về N, (vết số 5); Vết cà trượt không liên tục kích thước 2,73m x 0,02m, điểm đầu vết cách đầu vết số 5 là 0,5m, cách (B) là 4,16m, điểm cuối vết cách (B) là 3,7m vết có chiều hướng từ Nam sang B (vết số 6); Vết cà trượt không liên tục kích thước 1,55m x 0,01m, vết có chiều hướng từ Nam sang B (vết số 7);

Xác định vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên đường là tại vị trí cuối vết cà trượt số (5) và đầu vết cà trượt số (6), thuộc phần đường đi của xe 36Z5-0491 (phần đường bên phải theo chiều từ thị trấn H đi xã P, huyện Q), được thể hiện tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường

Khám nghiệm phương tiện xác định, điểm đâm va đầu tiên giữa hai phương tiện là vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 36Z5-0491 (ảnh 2, 3) với mặt trước, mặt ngoài lốc máy bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 36H5 - 018.12 (ảnh 3, 4), được thể hiện tại biên bản khám nghiệm phương tiện và bản ảnh khám nghiệm phương tiện. Tại thời điểm va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 36Z5 - 0491 và xe mô tô biển kiểm soát 36H5 - 018.12 chuyển động ngược.

Về tổn thương cơ thể do vụ tai nạn gây ra:

  • - Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 313/KLTTCT-PYTH ngày 04/5/2024 của Trung tâm pháp Y tỉnh T Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Văn P tại thời điểm giám định là 74% (Bảy mươi bốn phần trăm).
  • - Đối với Hà Thị Ó theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 314/KLTTCT-PYTH ngày 08/5/2024 của Trung tâm pháp Y tỉnh T Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Thị Ó là 53% (Năm mươi ba phần trăm).
  • - Kết luận giám định chất ma túy số 337/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của V (Lấy mẫu xét nghiệm ngày 10/01/2024) Hà Văn Q và Hà Văn P khi điều khiển phương tiện: Không có chất ma túy.
  • - Kết luận giám định nồng độ cồn số 543/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K2 công an tỉnh T (Lấy mẫu xét nghiệm ngày 10/01/2024): Hà Văn Q Không có nồng độ cồn trong máu;

Thiệt hại về tài sản, theo Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Q Kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12 bị hư hỏng có giá trị thiệt hại là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) và xe mô tô biểm kiểm soát 36Z5 - 0491 bị hư hỏng có giá trị thiệt hại là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng), tổng thiệt hại 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Về vật chứng, tài sản, phương tiện: Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12 và xe mô tô biểm kiểm soát 36Z5-0491. Sau khi điều tra, xác minh, cơ quan CSĐT đã xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12 do Hà Văn Q điều khiển là xe của anh Hà Văn T (Anh rể Q) ở Bản P, xã P, Q; Xe mô tô biển kiểm soát 3625-0491 là của anh Hà Văn P1 (Con ông Hà Văn P) ở khu E thị trấn H, Q, sau khi khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và định giá tài sản, xét thấy việc tạm giữ 2 phương tiện trên là không cần thiết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về dân sự: Hà Văn Q đã bồi thường cho ông Hà Văn P và Hà Thị Ó số tiền 40.000.000 đ (Bốn mươi triệu đồng). Ngoài số tiền trên ông Hà Văn P và Hà Thị Ó không còn đề nghị gì khác.

Những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về các Kết luận giám định, Kết luận định giá.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo giao nộp bổ sung các tài liệu gồm: 01 Đơn xin giảm nhẹ hình phạt, 01 đơn xin hưởng án treo của Ban Q1, có xác nhận của UBND xã P.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi điều khiển xe mô tô không đi đúng phần đường quy định (đi lấn sang phần đường ngược chiều) dẫn đến việc tai nạn giao thông với xe mô tô do ông Hà Văn P điều khiển, chở theo bà Hà Thị Ó, làm ông P bị thương tích (tỷ lệ tổn thương cơ thể 74%), bà Ó bị thương tích (tỷ lệ tổn thương cơ thể 53%) tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 2 người là 127% (Một trăm hai mươi bảy phần trăm). Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Người bị hại gồm có ông Hà Văn P và bà Hà Thị Ó thống nhất trình bày: Ngày 10/01/2024 ông P có uống rượu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 3625-0491 tham gia giao thông có chở theo bà Hà Thị Ó (là vợ ông), khi đến địa phận bản T, xã P, huyện Q thì bị Hà Văn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12, xe Q không đi đúng phần đường quy định dẫn đến tai nạn giao thông với xe máy ông P điều khiển. Hậu quả làm ông P và bà Ó bị thương, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 2 người là 127%. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã có trách nhiệm khắc phục hậu quả, sửa chữa các thiết bị hư hỏng của xe; bị cáo đã bồi thường 40.000.000 đồng cho gia đình. Ông, bà không có ý kiến, yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vật chứng của vụ án gồm có: Xe mô tô biển kiểm soát 36H5-018.12 do Hà Văn Q điều khiển là xe của anh Hà Văn T (Anh rể Q) ở Bản P, xã P, Q và xe mô tô biển kiểm soát 3625-0491 là của anh Hà Văn P1 (Con ông Hà Văn P) ở khu E thị trấn H, Q. Các vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q trả lại cho các chủ sở hữu.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT- VKS- QH ngày 22/04/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng: Điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

* Người bào chữa cho bị cáo:

Đồng tình với quan điểm truy tố và luận tội của VKS về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo và đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo, xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo ngoài xã hội, bản thân sớm trở thành công dân có ích.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; đồng tình với lời bào chữa; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chữa khỏi chân và cải tạo, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tram truy tố đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định, Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc tham gia giao thông đường bộ, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008. “1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”...

Như vậy, hành vi của bị cáo chuyển hướng xe khi không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp làm ông Hà Văn P và bà Hà Thị Ó bị thương, tổng tỷ lệ tổn thương của 2 người là 127%, là đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định tội “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%” theo điểm e khoản 2 Điều 260 BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ; gây tai nạn, gây tổn hại cho sức khỏe và làm cho ông P và bà Ó bị thương với tỷ lệ thương tích là 127%. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

  • + Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Hà Văn P và bà Hà Thị Ó số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng); Ngoài ra bố đẻ của bị cáo hoạt động kháng chiến chống Mỹ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; đồng thời Trưởng bản Pan và gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
  • + Đối với hành vi của bị hại ông Hà Văn P: Ông P điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu, bị hại Hà Văn P cũng có lỗi là nguyên nhân dẫn đến tai nạn, thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Như vậy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 và 04 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt chính:

  • + Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn, hiện tại bị cáo bị thương tích ở gót chân chưa bình phục di chuyển phải chống nạng, là lao động chính trong gia đình, vợ đang mang thai (có xác nhận của UBND xã P); bị cáo cơ nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên Hội đồng xét xử chỉ áp dụng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt đối với bị cáo, là thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
  • + Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán thì bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo. Do đó cần áp dụng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không thuộc trường hợp phải áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS.

[7] Về biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo hết hiệu lực kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

[8] Về bồi thường dân sự:

  • + Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), bị hại không có ý kiến gì thêm nên HĐXX không xem xét;
  • + Đối với giá trị thiệt hại, hư hỏng của 02 chiếc xe máy tương đương 6.500.000₫ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hà Văn T không có yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: 02 xe moto đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật, không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50 BLHS năm 2015; khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo hết hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

2. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án hoặc ngày nhận được bản án hợp lệ theo quy định cuae pháp luật/.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện Quan Hóa;
  • - Cơ quan THAHS- CA huyện Quan Hóa;
  • - UBND xã Phú Xuân, huyện Quan Hóa;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Vi Ngọc Trung

Ngô Thị Thanh

Nguyễn Văn Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Quý phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger