|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày 06/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Quyền và bà Hoàng Thị Thúy.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Nhã, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 26/8/2024, đối với bị cáo:
Lường Văn L, tên gọi khác: không; sinh ngày 09/8/1972, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1, đã chết và bà Lường Thị T; có vợ là Trịnh Thị Q, có 02 con. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: 03
- + Năm 2001 bị Công an huyện V, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 550.000 đồng về hành vi Đánh bạc và Đ nhau;
- + Tại Bản án số 04/2008/HSST ngày 01/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
- + Tại Bản án số 27/2018/HSST ngày 25/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vi Khánh P, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt;
- Người chứng kiến: Anh Ma Văn Đ1, sinh năm 1985, nơi cư trú: xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, Tổ công tác Công an xã S làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn xã, khi đến địa bàn xóm N Tác Tổ công tác phát hiện một nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, tiến hành kiểm tra người nam giới khai tên là Lường Văn L và tự giác lấy từ túi quần bên trái đang mặc giao nộp 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất tinh bột màu trắng, L khai nhận là ma túy loại Heroine của L mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của L có khối lượng 0,331 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 732/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,331 gam.
Lường Văn L khai nhận: bản thân là người nghiện ma túy loại heroine, 07h30' ngày 13/6/2024 L đi nhờ xe mô tô của người không quen biết đi từ nhà đến khu vực chợ L2 để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây L gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh bên ngoài, bên trong gói bằng giấy màu trắng với giá 200.000 đồng, L cất giấu gói ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ ra đường đi nhờ xe của người nam giới không quen biết về xóm N để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã S phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu M bên trong có 0,304 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có chứa 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKSVN ngày 23/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Lường Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn L từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu M, V.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật như nội dung Bản cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hoàn cảnh sinh sống, trình độ nhận thức của bị cáo xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, tại khu vực xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Lường Văn L có hành vi tàng trữ 0,331 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã S phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo không có tiền án tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xử phạt hành chính và 02 lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời; xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị, gia đình thuộc hộ nghèo. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu M bên trong có 0,304 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có chứa 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1 là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực chợ xã L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024.
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong kí hiệu M bên trong có 0,304 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có chứa 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A1.
Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 40 ngày 21/8/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
5
6
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn L bị tuyên phạt 30 tháng tù
