|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 06 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Trầm
Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Trung Thành
Ông Nguyễn Viết Xứng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Phương Tình, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 23/4/2024 của TAND huyện Đồng Phú đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Lê Văn H (tên gọi khác: không); sinh năm 1993 tại Nghệ An.
Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: Tổ I, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1960 (Còn sống) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1960 (Còn sống); có vợ Tôn Thị D, sinh năm 1990 (Đã ly hôn) và có 01 con chung sinh năm 2013; bị cáo đã từng sống chung như vợ chồng với Trịnh Thị S sinh năm 1990 và có 01 con chung sinh năm 2022; Hiện bị cáo đang sống chung như vợ chồng với Lê Trần Bích L sinh năm 2000 và có 01 con chung sinh năm 2023; bị cáo có 03 chị ruột, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 04/01/2021, bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về trật tự công cộng”. Chấp hành xong ngày 06/01/2021.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
2. Bị cáo Đinh Hữu Q, sinh năm 1997 tại Nghệ An.
Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi tạm trú: Tổ H, khu phố Đ, phường H, TP B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hữu V, sinh năm 1975 (Còn sống) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1977 (Còn sống); bị cáo có vợ Phan Thị Thùy S1, sinh năm 1999 (Đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2020. Bị cáo có 02 em ruột, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng:
- Người bị hại:
- Bà Trương Thị L1, sinh năm 1974 (xin vắng mặt)
- Chị Giản Thị Hương L2, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)
- Bà Kiều Thị P, sinh năm 1969 (xin vắng mặt)
- Bà Phạm Thị L3, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Bà Phùng Thị L4, sinh năm 1976 (xin vắng mặt)
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1954 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Trú tại: Ấp Minh Tân, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Trú tại: KP Suối Đá, phường Tân Xuân, TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Trú tại: Ấp Thạnh Thanh, xã Thạnh Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
Trú tại: Ấp Ấ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
Trú tại: Ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương
Trú tại: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương
Trú tại: Ấp S, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương
Trú tại: Ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Trần Bích L, sinh năm 2000 (có mặt)
- Chị Trịnh Thị S, sinh năm 1990 (có mặt)
- Anh Đặng Kim T1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Hằng N2, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Chị Lê Thị L5, sinh năm 1985 (có mặt)
- Anh Đinh Hữu B, Sinh năm 1987 (có mặt)
- Bà Tạ Thị Phương T2, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Bà Trần Thị L6, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Trú tại: KP Đ, phường B, TP T, tỉnh Bình Dương
Trú tại: Tổ I, phường H, TP B, tỉnh Đồng Nai
Trú tại: KP Đ, phường B, TP T, tỉnh Bình Dương
Trú tại: Ấp F, xã T, TP Đ, tỉnh Bình Phước
Trú tại: KP Đ, phường T, TP D, tỉnh Bình Dương
Trú tại: KP B, phường A, TP D, tỉnh Bình Dương
Trú tại: KP F, phường T, TX B, tỉnh Bình Dương
Trú tại: 1 Đại lộ B, phường H, TP T, tỉnh Bình Dương
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Văn H và Đinh Hữu Q bàn bạc đi cướp giật tài sản của người đi đường, với thủ đoạn H điều khiển xe mô tô để Q ngồi sau giật tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Từ ngày 01/5/2023 đến 20/5/2023, H và Q đã thực hiện 08 vụ cướp giật tài sản tại huyện G, tỉnh Kiên Giang; huyện P, tỉnh Bình Dương; huyện Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Nội dung cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 01/5/2023, H điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 155 màu xám đen, gắn biển “XE XIN SỐ” chở Q đi từ huyện G, tỉnh Kiên Giang về tỉnh Bình Dương. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện G, phát hiện ông Huỳnh Văn Q1 điều khiển xe mô tô biển số 68KA-001.28 chở vợ là bà Kiều Thị P đang lưu thông phía trước cùng chiều. Trên cổ của bà P có đeo sợi dây chuyền vàng nên H điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe mô tô ông Q1 để Q dùng tay phải giật dây chuyền của bà P rồi H điều khiển xe mô tô tăng ga tẩu thoát. Sau đó, H và Q đem sợi dây chuyền giật được của bà P bán cho một tiệm vàng (không nhớ biển hiệu; địa điểm) được 6.200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết (bút lục 57-60; 66- 69).
Vụ thứ hai: Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 18/5/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, loại 135, màu đỏ - đen, biển số 59L1- 190.75 chở Q lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng từ thị xã Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương. Khi đến đoạn đường đèn xanh – đèn đỏ Khu Công Nghiệp B thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, phát hiện chị Giản Thị Hương L2 đang điều khiển xe mô tô biển số 93P2- 450.03, lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ chị L2 có đeo sợi dây chuyền vàng nên H điều khiển xe áp sát bên trái xe mô tô của L2 để Q giật dây chuyền của L2 rồi H tăng ga tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương. Khi về đến thị xã B, tỉnh Bình Dương, Q đem sợi dây chuyền giật được của L2 đi bán cho tiệm vàng (không nhớ biển hiệu, địa điểm) được 3.300.000 đồng. Số tiền này, H cho Q 700.000 đồng, còn lại 2.600.000 đồng H và Q cùng tiêu xài hết (bút lục 480-482; 521-523).
Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 19/5/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 155 màu xám đen, gắn biển số giả 77C1- 227.87 lưu thông theo đường Quốc lộ 13 từ tỉnh Bình Dương đi tỉnh Bình Phước tìm tài sản để giật. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước phát hiện ông Nguyễn T3 điều khiển xe mô tô biển số 93F2- 0432 chở vợ là bà Phạm Thị L3 lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ bà L3 đeo sợi dây chuyền vàng. Lúc này, H điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe ông T3 để Q giật sợi dây chuyền của bà L3 rồi H tăng ga tẩu thoát về thị xã B, tỉnh Bình Dương thuê phòng trọ để ngủ, còn sợi dây chuyền giật được của bà L3, H và Q cất giữ chưa bán (bút lục 485-486; 528-529).
Vụ thứ tư: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 20/5/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 155 màu xám đen, gắn biển số giả 77C1- 227.87 chở Q lưu thông trên đường ĐT741 từ thị xã B, tỉnh Bình Dương đi tỉnh Bình Phước. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương phát hiện anh Mai Tuấn V1 điều khiển xe mô tô biển số 61F9- 6977 chở chị Nguyễn Thị H1 đang lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ chị H1 đeo sơi dây chuyền vàng. Lúc này, H điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe của V1 để Q giật dây chuyền của chị H1 rồi H tăng ga tẩu thoát về hướng huyện Đ, tỉnh Bình Phước (bút lục 483-484; 524-527).
Vụ thứ năm: Khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày 20/5/2023, trên đường tẩu thoát sau khi giật sợi dây chuyền của chị H1. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, H và Q phát hiện bà Phùng Thị L4 đang đi xe đạp điện phía trước cùng chiều, trên cổ bà L4 đeo sợi dây chuyền vàng. H quan sát thấy vắng người nên điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe bà L4 để Q giật sợi dây chuyền của bà L4 rồi H tăng ga tẩu thoát về hướng huyện Đ, tỉnh Bình Phước (bút lục 483-484; 524-527).
Vụ thứ sáu: Khoảng 06 giờ 25 phút cùng ngày 20/5/2023, trên đường tẩu thoát sau khi giật sợi dây chuyền của bà L4. Khi H, Q đi đến khu vực ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước phát hiện bà Trương Thị L1 đang điều khiển xe mô tô biển số 93M1- 207.51 lưu thông theo hướng huyện Đ, tỉnh Bình Phước đi huyện P, tỉnh Bình Dương trên cổ bà L1 đeo dây chuyền vàng. Lúc này, H điều khiển xe qua đường đi theo sau xe mô tô bà L1 để chờ thời cơ giật sợi dây chuyền. Khi đi đến khu vực vắng người tại ấp M, xã T, huyện Đ, H điều khiển xe áp sát bên trái xe của bà L1 để Q giật sợi dây chuyền của bà L1 rồi tăng ga tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương (bút lục 480-482; 521-523).
Vụ thứ bảy: Khoảng 07 giờ cùng ngày 20/5/2023 trên đường tẩu thoát sau khi giật sợi dây chuyền của bà L1. Khi qua Trạm thu phí xã T, huyện Đ thì H và Q rẽ vào đường bê tông bên phải để đi về thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khi đến đoạn đường thuộc ấp S, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương phát hiện bà Võ Thị M đang điều khiển xe mô tô biển số 61FC-9014 lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ bà M đeo dây chuyền vàng. H điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe của bà M để Q giật sợi dây chuyền nhưng do H điều khiển xe mô tô chạy nhanh nên Q không giật được sợi dây chuyền (giật hụt). Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe chở Q tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương (bút lục 483-484; 524-527).
Vụ thứ tám: Khoảng 07 giờ 40 giờ cùng ngày 20/5/2023, trên đường tẩu thoát sau khi giật hụt sợi dây chuyền của bà M. Khi H và Q đi đến đoạn đường tại ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, phát hiện bà Nguyễn Thị N1 đang điều khiển xe mô tô biển số 62Y1-2283 lưu thông theo hướng ngược lại, trên cổ bà N1 đeo dây chuyền vàng. Lúc này, H điều khiển xe mô tô quay lại áp sát bên trái xe bà N1 để Q giật sơi dây chuyền của bà N1. Do sợi dây chuyền bị làm hai đoạn nên Q chỉ giật được một đoạn sợi dây chuyền của bà N1 rồi H tăng ga tẩu thoát về hướng thị xã B, tỉnh Bình Dương (bút lục 483-484; 524-527).
Quá trình điều tra chứng minh được, ngoài 08 vụ cướp giật tài sản trên thì H và Q cùng với thủ đoạn tương tự còn thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản vào các ngày 01/5/2023; 19/5/2023 và 20/5/2023 nhưng chưa xác định được bị hại, địa điểm cụ thể, đặc điểm tài sản. Nội dung như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 01/5/2023, trên đường tẩu thoát từ huyện G, tỉnh Kiên Giang về tỉnh Bình Dương sau khi giật được sợi dây chuyền của bà Kiều Thị P. Hiếu và Q phát hiện một người phụ nữ điều khiển xe mô tô (chưa rõ lai lịch, đặc điểm xe) lưu thông phía trước cùng chiều đang nghe điện thoại (không rõ đặc điểm, chủng loại) nên H điều khiển xe áp sát bên trái để Q giật điện thoại của người phụ nữ này rồi H tăng ga tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương (bút lục 57-60; 66- 69).
Vụ thứ hai: Cùng ngày 01/5/2023, sau khi giật được điện thoại của người phụ nữ (chưa rõ lai lịch). Trên đường tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương, H và Q tiếp tục phát hiện một người phụ nữ điều khiển xe mô tô (chưa rõ lai lịch, đặc điểm xe) lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ người phụ nữ có đeo sợi dây chuyền vàng. Lúc này, H điều khiển xe áp sát bên trái để Q giật dây chuyền của người phụ nữ này rồi cả hai tiếp tục tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương (bút lục 57-60; 66- 69).
Vụ thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 19/5/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 155 màu xám đen, gắn biển số giả 77C1- 227.87 chở Q lưu thông theo đường Quốc lộ 13 từ tỉnh Bình Dương đi tỉnh Bình Phước để tìm tài sản cướp giật (trước khi giật sợi dây chuyền của bà Phạm Thị L3). Khi đến đoạn đường thuộc huyện H, tỉnh Bình Phước (chưa xác định được địa điểm cụ thể), H và Q phát hiện một người phụ nữ điều khiển xe mô tô phía trước cùng chiều (chưa rõ lai lịch, đặc điểm xe), trên cổ người phụ nữ có đeo sợi dây chuyền vàng. H điều khiển xe áp sát bên trái để Q giật sợi dây chuyền của người phụ nữ rồi H tăng ga tẩu thoát về hướng huyện H, tỉnh Bình Phước (bút lục 485-486; 528-529).
Vụ thứ tư: Ngày 20/5/2023, trên đường tẩu thoát sau khi giật sợi dây chuyền của bà Nguyễn Thị N1. Hiếu và Q phát hiện một người phụ nữ điều khiển xe mô tô (chưa rõ lai lịch, đặc điểm xe) lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng. H liền điều khiển xe mô tô áp sát để Q giật sợi dây chuyền của người phụ nữ nhưng Q không giật được (giật hụt) rồi cả hai tiếp tục tẩu thoát về hướng tỉnh Bình Dương (bút lục 490- 492; 532-536).
Đối với với các dây chuyền cướp giật được trong ngày 19/5/2023 và ngày 20/5/2023, H và Q tiêu thụ như sau: Ngày 20/5/2023, H đem 03 sợi dây chuyền đến bán cho Trần Thị L6 là chủ tiệm vàng “Kim Thành” tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương được 11.800.000 đồng. Q cũng đem 02 (hai) dây chuyền đến bán cho tiệm V2” được 16.400.000 đồng. Sau đó, H và Q đem 01 sợi dây chuyền đến bán cho Tạ Thị Phương T2 là chủ tiệm vàng “Kim Minh T4” tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương được 4.680.000 đồng. Tổng số tiền mà H và Q bán 06 sợi dây chuyền là 32.880.000 đồng. H và Q chia nhau mỗi đối tượng 15.000.000 đồng, còn 2.880.000 đồng H cất giữ để cùng Q tiêu xài chung. Sau tiền được chia, H gửi 10.000.000 đồng cho Lê Trần Bích L giữ.
Sau khi bị cướp giật tài sản, ngày 18/5/2023 chị Giản Thị Hương L2 đến Công an thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước trình báo và ngày 20/5/2023, bà Trương Thị L1 đến Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước trình báo. Sau khi tiếp nhận, Công an thị trấn T và xã T đã chuyển nguồn tin cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 21/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã mời Lê Văn H và ngày 22/5/2023, Cơ quan điều tra đã mời Đinh Hữu Q lên làm việc. Qua làm việc, H và Q đã khai nhận đã thực hiện các vụ cướp giật tài sản như trên và H giao nộp 570.000 đồng, Q giao nộp 2.000.000 đồng là số tiền do phạm tội mà có còn lại. Đồng thời, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã chuyển nguồn tin cho Cơ quan CSĐT Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang; huyện P, tỉnh Bình Dương và huyện H, tỉnh Bình Phước để phối hợp giải quyết (bút lục 480-500; 521-536).
Theo Kết luận định giá tài sản số 25 ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Bình Phước kết luận:
- 01 (một) sợi dây chuyền bằng vàng loại 24K, có trọng lượng 01 chỉ 03 phân trị giá 7.267.000 đồng;
- 01 (một) sợi dây chuyền dạng đốt tre, bằng vàng, loại vàng 18K có trọng lượng 02 chỉ 05 phân trị giá 10.151.000 đồng;
- 01 (một) mặt dây chuyền hình phật, bằng vàng 610P (loại vàng 14K), có trọng lượng 01 chỉ 05 phân 3 trị giá 4.766.103 đồng;
Tổng cộng là 22.184.103 đồng (bút lục 450- 451).
Theo Kết luận định giá tài sản số 41 ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện P, tỉnh Bình Dương kết luận:
- 01 (một) sợi dây chuyền loại vàng 18K, có trọng lượng 01 chỉ 12.4 trị giá 4.000.000 đồng;
- 01 (một) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền loại vàng 18K có trọng lượng 3,5 chỉ trị giá 12.425.000 đồng;
- 01 (một) sợi dây chuyền loại vàng 14K, có trọng lượng 02 chỉ trị giá 7.100.000 đồng;
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng loại 14K có trọng lượng 6,5456gam (tương đương 1,75 chỉ) trị giá 6.200.000 đồng;
Tổng cộng là 29.725.000 đồng (bút lục 272- 273).
Theo Kết luận định giá tài sản số 35 ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có mặt dây chuyền bằng vàng, hình ô van có đính đá, tổng trọng lượng 03 chỉ (giá vàng nữ trang 18K không bao gồm tiền công) trị giá 10.500.000 đồng (bút lục 128 -129).
Theo Kết luận định giá tài sản số 28 ngày 15/9/2023 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện G, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K có trọng lượng 3,5 chỉ, đã qua sử dụng trị giá 15.015.000 đồng
Ngày 09/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng cho bà Nguyễn Thị N1 và trả lại 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng có chiều dài khoảng 50cm (loại mắt xích) cho bà Võ Thị M (bút lục 274).
Vật chứng đưa ra xem xét:
Thu giữ của Lê Văn H:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số I: 864751064351938-73, màn hình bị vỡ nứt;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M20, màu xanh, số Imei: 354556102103697;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu xanh, loại có phím bấm;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, trên nón có dòng chữ “PIAGGIO";
- 01 (một) áo khoác vải màu đen, size 3XL, loại có mũ trùm đầu, trên áo có nhiều hoa văn;
- 01 (một) đôi giày thể thao màu xám, size 41, có dòng chữ: “GORE-TEX” màu nâu;
- 01 (một) nón kết màu nâu, nhãn hiệu “NonSon”, trên nón có nhiều hoa văn;
- 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter, màu đỏ, biển số 59L1-190.75;
Thu giữ của Đinh Hữu Q:
- 01 (một) Biển số xe mô tô số 77C1-227.87;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, số I: 354813600543621, màn hình bị vỡ nứt;
- 01 (một) quần short màu nâu, nhãn hiệu “MANITTOBAH”, size 30;
- 01 (Một) xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter, màu đỏ, gắn biển “XE XIN SỐ”, số khung: RLCUG1210NY090662; số máy: G3M5E-179221;
- 01 (một) áo khoác vải màu đen, nhãn hiệu “Ngọc Fashion”, size 4XL, loại có mũ trùm đầu;
- 01 (một) đôi giày thể thao màu đen, size 40, có dòng chữ: “FASHIION SPORT EHOE” màu đỏ;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám, trên mũ có dòng chữ “HEAD Thủy Ngân”;
- 01 (một) áo thun màu nâu, nhãn hiệu “OPA”, size XL, trên áo có nhiều hoa văn;
- Số tiền 22.570.000 đồng
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Phạm Thị L3 yêu cầu bồi thường 10.500.000 đồng; bị hại Kiều Thị P yêu cầu bồi thường 15.015.000 đồng;
- Gia đình các bị can đã bồi thường cho các bị hại Nguyễn Thị H1 4.000.000 đồng; Phùng Thị L4 12.500.000 đồng; Nguyễn Thị N1 4.000.000 đồng; Trương Thị L1 15.000.000 đồng; Giản Thị Hương L2 5.000.000 đồng. Các bị hại này không yêu cầu bồi thường gì thêm;
- Bị hại Võ Thị M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị L6, Tạ Thị Phương T2 không yêu cầu bồi thường.
- Gia đình 02 bị can giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho 02 bị hại Phạm Thị L3, Kiều Thị P.
Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKSĐP ngày 22 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm b, c, d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Đinh Hữu Q và Lê Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố. Sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Hữu Q và bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về hình phạt và Điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm b, c, d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 17; 38; 50 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Đinh Hữu Q từ 7 năm đến 08 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.
Áp dụng điểm b, c, d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 17; 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Lê Văn H từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị HĐXX Căn cứ Điều 585 và 587 BLDS 2015, chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Phạm Thị L3 và bà Kiều Thị P, buộc hai bị cáo Lê Văn H và Đinh Hữu Q phải liên đới bồi thường cho bà Phạm Thị L3 10.500.000 đồng và Kiều Thị P 15.015.000 đồng.
Tuy nhiên, do đã có số tiền thu được của các bị cáo còn lại sau khi phạm tội mà có; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người nhà bị can đã tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả là 22.570.000 đồng nên cần ưu tiên sử dụng số tiền này để bồi thường cho bà Phạm Thị L3 và bà Kiều Thị P. Căn cứ theo tỉ lệ % số tiền yêu cầu bồi thường, các bị hại sẽ được bồi thường từ số tiền 22.570.000 đồng đã thu được như sau:
- + Bà Phạm Thị L3 được nhận: 41,2% x 22.570.000 đồng = 9.298.840 đồng.
- + Bà Kiều Thị P được nhận: 58,8% x 22.570.000 đồng = 13.271.160 đồng.
Các bị cáo còn phải liên đới bồi thường cho bà Phạm Thị L3 số tiền 1.201.160 đồng và liên đới bồi thường cho bà Kiều Thị P số tiền 1.743.840 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đề nghị HĐXX:
* Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số I: 864751064351938-73, màn hình bị vỡ nứt thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M20, màu xanh, số Imei: 354556102103697 thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu xanh, loại có phím bấm thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter, màu đỏ, biển số 59L1-190.75 thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, số I: 354813600543621, màn hình bị vỡ nứt Đinh Hữu Q;
*Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, trên nón có dòng chữ “PIAGGIO";
- 01 (một) áo khoác vải màu đen, size 3XL, loại có mũ trùm đầu, trên áo có nhiều hoa văn;
- 01 (một) đôi giày thể thao màu xám, size 41, có dòng chữ: “GORE-TEX” màu nâu;
- 01 (một) nón kết màu nâu, nhãn hiệu “NonSon”, trên nón có nhiều hoa văn;
- 01 (một) áo khoác vải màu đen, nhãn hiệu “Ngọc Fashion”, size 4XL, loại có mũ trùm đầu;
- 01 (một) đôi giày thể thao màu đen, size 40, có dòng chữ: “FASHIION SPORT EHOE” màu đỏ;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám, trên mũ có dòng chữ “HEAD Thủy Ngân”;
- 01 (một) áo thun màu nâu, nhãn hiệu “OPA”, size XL, trên áo có nhiều hoa văn;
- 01 (một) quần short màu nâu, nhãn hiệu “MANITTOBAH”, size 30;
- 01 (một) Biển số xe mô tô số 77C1-227.87;
* Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho chủ sở hữu chị Lê Trần Bích L 01 (Một) xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter, màu đỏ, gắn biển “XE XIN SỐ”, số khung: RLCUG1210NY090662; số máy: G3M5E-179221;
- Lưu theo hồ sơ vụ án 05 (năm) USB chứa dữ liệu camera, gồm:
- 02 (hai) USB ghi dữ liệu camera của hai tiệm vàng khi H và Q mang bán 06 (sáu) sợi dây chuyền;
- 01 (một) USB ghi dữ liệu camera thời điểm H và Q giật dây chuyền của bà Trương Thị L1 vào ngày 20/5/2023 tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;
- 02 (hai) USB ghi dữ liệu camera H và Q khi qua hiện trường giật dây chuyền của bà Phùng Thị L4 tại ấp T, xã A, huyện P và khi đi qua hiện trường giật dây chuyền của bà Nguyễn Thị N1 tại ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 20/5/2023.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
* Án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Đinh Hữu Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
* Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Đinh Hữu Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng).
Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Hữu Q và bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về hình phạt và Điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm b, c, d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; các Điều 17; 38; 50 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đinh Hữu Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 22/5/2023.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm b, c, d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; các Điều 17; 38; 50 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 22/5/2023.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 585 và 587 BLDS 2015, ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo và chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Phạm Thị L3 và bà Kiều Thị P. Buộc hai bị cáo Lê Văn H và Đinh Hữu Q phải liên đới bồi thường cho bà Phạm Thị L3 số tiền 10.500.000 đồng và Kiều Thị P số tiền 15.015.000 đồng.
Bà Phạm Thị L3 được nhận bồi thường từ số tiền 22.570.000 đồng là 9.298.840 đồng; Bà Kiều Thị P được nhận số tiền bồi thường từ số tiền 22.570.000 đồng là 13.271.160 đồng.
Các bị cáo còn phải liên đới bồi thường cho bà Phạm Thị L3 số tiền còn lại 1.201.160 đồng và liên đới bồi thường cho bà Kiều Thị P số tiền còn lại 1.743.840 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
* Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số I: 864751064351938-73, màn hình bị vỡ nứt thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M20, màu xanh, số Imei: 354556102103697 thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu xanh, loại có phím bấm thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter, màu đỏ, biển số 59L1-190.75 thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, số I: 354813600543621, màn hình bị vỡ nứt Đinh Hữu Q;
*Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, trên nón có dòng chữ “PIAGGIO";
- 01 (một) áo khoác vải màu đen, size 3XL, loại có mũ trùm đầu, trên áo có nhiều hoa văn;
- 01 (một) đôi giày thể thao màu xám, size 41, có dòng chữ: “GORE-TEX” màu nâu;
- 01 (một) nón kết màu nâu, nhãn hiệu “NonSon”, trên nón có nhiều hoa văn;
- 01 (một) áo khoác vải màu đen, nhãn hiệu “Ngọc Fashion”, size 4XL, loại có mũ trùm đầu;
- 01 (một) đôi giày thể thao màu đen, size 40, có dòng chữ: “FASHIION SPORT EHOE” màu đỏ;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám, trên mũ có dòng chữ “HEAD Thủy Ngân”;
- 01 (một) áo thun màu nâu, nhãn hiệu “OPA”, size XL, trên áo có nhiều hoa văn;
- 01 (một) quần short màu nâu, nhãn hiệu “MANITTOBAH”, size 30;
- 01 (một) Biển số xe mô tô số 77C1-227.87;
* Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho chủ sở hữu chị Lê Trần Bích L 01 (Một) xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter, màu đỏ, gắn biển “XE XIN SỐ”, số khung: RLCUG1210NY090662; số máy: G3M5E-179221;
- Lưu theo hồ sơ vụ án 05 (năm) USB chứa dữ liệu camera, gồm:
- 02 (hai) USB ghi dữ liệu camera của hai tiệm vàng khi H và Q mang bán 06 (sáu) sợi dây chuyền;
- 01 (một) USB ghi dữ liệu camera thời điểm H và Q giật dây chuyền của bà Trương Thị L1 vào ngày 20/5/2023 tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;
- 02 (hai) USB ghi dữ liệu camera H và Q khi qua hiện trường giật dây chuyền của bà Phùng Thị L4 tại ấp T, xã A, huyện P và khi đi qua hiện trường giật dây chuyền của bà Nguyễn Thị N1 tại ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 20/5/2023.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hương Trầm |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CƯỚP TÀI SẢN
