Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Huy và ông Trương Hải Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 01/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST- HNGĐ ngày 15/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Xuân M, sinh năm 2000, địa chỉ: Khu phố 3, phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, vắng mặt, có Đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 29/02/2024, bản tự khai ngày 15/4/2024 và Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28/8/2024 chị Trần Thị Xuân M đều trình bày: Chị và anh Trần Văn H trước đây tìm hiểu, yêu nhau và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 10/9/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau bình thường được khoảng 01 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống với nhau không tin tưởng lẫn nhau, anh H thường xuyên cờ bạc, không chăm lo gia đình nên vợ chồng thường hay va chạm cãi cọ nhau. Nhiều lần chị trao đổi, góp ý, mong anh H thay đổi, có ý thức xây dựng gia đình nhưng không có kết quả nên hai người đã sống ly thân nhau 4 năm nay không ai còn quan tâm gì đến ai nữa. Hiện tại, chị M xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, không còn khả năng cải thiện lại quan hệ hôn nhân nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn H. Về con chung: Chị M và anh H có 01 con chung tên là Trần Gia H1, sinh ngày 08/12/2019. Hiện con đang ở với chị M, sau khi ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, vì chị có đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kể cả Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa hai lần nhưng anh H vẫn vắng mặt mà không có lý do.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng

Nguyên đơn chị Trần Thị Xuân M khởi kiện yêu cầu ly hôn và được trực tiếp nuôi con đối với bị đơn anh Trần Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy đã kiểm tra, xác minh, thấy bị đơn anh Trần Văn H có nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo giấy xác nhận thông tin cư trú của Công an xã P do chị M giao nộp. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các thông báo, quyết định xét xử và giấy triệu tập phiên tòa hai lần hợp lệ nhưng anh H không đến tòa mà không có lý do. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được pháp luật quy định.

Ngày 04/9/2024, Tòa án nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị Trần Thị Xuân M, có nội dung giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con như đã trình bày tại đơn ly hôn và bản tự khai nói trên. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo các điểm a, b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, cho thấy, chị Trần Thị Xuân M và anh Trần Văn H yêu nhau và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 10/9/2019 là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị M trong quá trình giải quyết vụ án, thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm, sau đó thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn. Nguyên nhân do anh H ham chơi cờ bạc không chăm lo cho gia đình, vợ chồng thường hay cãi vã làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt, mất mát, không thể hàn gắn được. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cũng đã tạo điều kiện về mặt thời gian, hòa giải để vợ chồng có thể thông cảm, bỏ qua những đố kị, mặc cảm cho nhau, cải thiện lại quan hệ hôn nhân, xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh H vẫn vắng mặt kể cả tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù Tòa án đã thực hiện biện pháp tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập cho anh H. Qua xác nhận của Công an xã P, anh H có nơi cư trú tại xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình và đang có mặt, sinh sống tại địa phương. Chứng tỏ anh H cố tình không chấp hành giấy triệu tập và thông báo của Tòa án, từ bỏ quyền lợi nghĩa vụ của mình, không có thiện chí hòa giải để bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị M nữa.

Xét thấy, tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, xử cho chị M, anh H được ly hôn nhau là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị M trình bày vợ, chồng có 01 con chung tên là Trần Gia H1, sinh ngày 08/12/2019, Hiện con đang ở với anh chị M, sau khi ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, vì chị có đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Anh H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, không có quan điểm về con nên cần chấp nhận yêu cầu của chị M để giao con cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Xuân M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, các điểm a, b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Xuân M.

  1. Xử cho chị Trần Thị Xuân M và anh Trần Văn H được ly hôn nhau.
  2. Giao con Trần Gia H1, sinh ngày 08/12/2019 cho chị Trần Thị Xuân M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị M không yêu cầu, do chị có đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Xuân M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 0004312 ngày 11/3/2024.

Nguyên đơn chị Trần Thị Xuân M và bị đơn anh Trần Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Lệ Thủy;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THA huyện Lệ Thủy;
  • - UBND phường M,
  • tp P, tỉnh Ninh Thuận
  • (để ghi chú vào sổ ĐKKH 10/9/2019);
  • - Lưu HS; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án có hiệu lực pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger