|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 04 – 9 – 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Hoàng Điệt.
Ông Trần Ngọc Giang Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tôn – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tào Hưng, sinh ngày 12/6/1995; nơi sinh: Tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, tổ D, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tào T, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1974; tiền án: Ngày 27/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 88/2020/HS-ST ngày 27/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (chấp hành xong vào ngày 05/02/2022); tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 15/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Tiền Phú Đ, sinh năm 2004, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 2000, địa chỉ: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
Ông Phan Vĩnh L, sinh năm 1992; HKTT: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 2004; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
2.4. Người làm chứng:
Ông Trần Hữu D, sinh năm 2002; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Bà Lâm Thị Ngọc H, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Ông Lê Thành L1, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
Ông Quách Minh S, sinh năm 1972; HKTT: Ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/9/2023, sau khi uống bia tại quán H3 thuộc ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo cùng với Nguyễn Hoàng T1, Đoàn Văn L2 đi về nhà, lúc này bị cáo điều khiển xe chở L2, còn T1 điều khiển xe của T1, khi đi đến ngã tư đường X bến đò L thì xe mô tô do bị cáo điều khiển suýt va chạm với xe mô tô do Phan Vĩnh L điều khiển chạy theo hướng ngược chiều với xe của bị cáo, khi đó bị cáo có nhìn L và nói “chạy xe gì kỳ vậy” rồi tiếp tục điều khiển xe chạy xuống bến đò Long Hưng để đi về nhà, còn L không nói gì mà chạy xe qua lộ về đến trước kho trang trí nội thất M tại gốc ngã tư đường. Sau đó, L nhìn thấy Nguyễn Tấn P, Tiền P, Nguyễn Văn T2 đang trên đường đi dự đám sinh nhật của một người bạn ở chợ B nên L kêu lại và hỏi “Tụi mầy có đi cùng hay có biết mấy thằng vừa chạy phía trước không”, Đ trả lời không biết, L nói tiếp: “Nó chạy ngang chửi và đòi đánh tao, bây giờ chạy xuống tìm nó xem là những thằng nào”. Nói xong L cùng với Đ, P, T2 chạy xe xuống bến đò Long Hưng để tìm nhóm của H1, khi đến bến đò Hai Ngân (Cả Hốn) thuộc ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì nhóm của L thấy bị cáo, L2, T1 đã xuống và đậu xe dưới đò, lúc này L, Đ, P, T2 đậu xe trên lộ và đi bộ xuống đò. Khi xuống đò L, Đ, P, T2 dùng mũ bảo hiểm và tay đánh bị cáo, L2, T1. Thấy vậy bị cáo, L2, T1 cũng đánh trả lại, trong lúc xảy ra xô xát đánh nhau thì bị cáo lấy cây dao trong bộ kềm cắt móng tay mà bị cáo mang theo bên người, đâm
khoảng 06-07 nhát trúng vào vùng bụng, ngực, hông của Đ; vùng bụng của P; vùng bụng của L và khuỷu tay trái của T2. Sau đó, nhóm của Đ bỏ chạy lên bờ, thấy vậy bị cáo, L2, T1 cũng đuổi theo lên bờ, khi đó hai bên nhặt cây quơ và ném vào nhau, lúc này bị cáo nói với T1, L2: “Thôi đi về, tao có đâm trúng tụi nó rồi”, nói xong bị cáo, T1, L2 xuống đò về bên thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang, sau đó bị cáo điều khiển xe chở L2 về Thành phố Hồ Chí Minh, T1 chạy về nhà, còn Đ được đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị đến ngày 09/9/2023 thì xuất viện.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 531/KLTTCT-TTPYST ngày 18/12/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh S đối với Tiền P, kết luận:
- Sẹo vùng liên sườn 5 - 6 đường nách trước bên trái, kích thước trung bình, gây thấu ngực, phổi + tổn thương tim, đã được phẫu thuật khâu vết thương tim, phổi. Siêu âm tim hiện tại chưa ghi nhận bất thường trên siêu âm. Xquang chưa ghi nhận bất thường tim, phổi trên phim X (không phát hiện xẹp phổi và dày dín màng phổi trái). Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.2, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (Hai phần trăm), Bản G, C, Mục I.1.1, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 35% (Ba mươi lăm phần trăm), Bảng 1, C, Mục IV.1, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 06% (Sáu phần trăm).
- Sẹo vùng liên sườn 9 - 10 đường nách giữa bên trái, kích thước lớn, gây thủng cơ hoành, đã được phẫu thuật khâu cơ hoành. Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.3, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03% (Ba phần trăm), Bảng 1, C, Mục VI.2, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 25% (Hai mươi lăm phần trăm).
- Sẹo vùng xương sườn 10 đường nách trước bên trái, kích thước trung bình, thấu bụng đã được phẫu thuật nội soi thám sát ổ bụng (03 sẹo phẫu thuật nội soi vùng bụng phải thảm sát ổ bụng, kích thước nhỏ) chưa ghi nhận bất thường các cơ quan. Siêu âm bụng tổng quát hiện tại chưa ghi nhận bất thường trên siêu âm. Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.2, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (Hai phần trăm), Bảng 1, C, Mục X.5, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 06% (Sáu phần trăm).
- Sẹo vùng hông trái, kích thước nhỏ. Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.1, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (Một phần trăm).
- Sẹo vùng hố chậu trái, kích thước nhỏ. Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.1, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (Một phần trăm).
- - Bề mặt bờ các vết sẹo trên sắc - gọn.
- Sẹo phẫu thuật khoảng liên sườn 4 - 5 vùng ngực trái, kích thước lớn. Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.3 + nguyên tắc 3, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03% (Ba phần trăm).
- Sẹo dẫn lưu hạ sườn trái, kích thước nhỏ. Căn cứ Bảng 1, C, Mục I.1 + nguyên tắc 3, Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (Một phần trăm).
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của Tiền P tại thời điểm giám định là: 62% (sáu mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Tổn thương có đặc điểm do vật sắc – nhọn gây nên.
Tại cáo trạng số: 29/CT-VKSMT ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Tào H2 về Tội cố ý gây thương tích, quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tào H2 phạm Tội cố ý gây thương tích và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tào H2 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù;
Về xử lý vật chứng: Đối với cây dao là hung khí mà bị cáo sử dụng để gây thương tích cho bị hại Tiền P, trên đường về đến cầu C bị cáo đã ném xuống sông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không thu hồi được cây dao này, do đó không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, thống nhất với nội dung cáo trạng truy tố, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị hại Tiền P yêu cầu về trách nhiệm hình sự yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự bị cáo Tào H2 đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) nên không yêu cầu.
Trong quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện M, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Vĩnh L; người làm chứng ông Trần Hữu D, bà Lâm Thị Ngọc H, ông Quách Minh S vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2; người làm chứng ông Lê Thành L1 vắng mặt không rõ lý do và xét thấy sự vắng mặt của của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát; bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất Cáo trạng truy tố, bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 531/KLTTCT-TTPYST ngày 18/12/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh S, hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vật chứng của vụ án và phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cụ thể: Ngày 02/9/2023, trong lúc đánh nhau với nhóm của Tiền Phú Đ tại bến đò Hai Ngân (Cả H), bị cáo đã dùng cây dao trong bộ kềm cắt móng tay là hung khí nguy hiểm đâm trúng vào vùng bụng, ngực, hông của bị hại Tiền Phú Đ, gây thương tích 62%. Hành vi dùng dao trong bộ kềm cắt móng tay là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Tiền P là 62% nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Do đó, cáo trạng số: 29/CT-VKSMT ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Tào H2 về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện với ý thức là cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, mà sức khỏe là vốn quý của con người, có sức khỏe thì con người mới làm ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân, giúp ích cho gia đình và xã hội. Do đó, sức khỏe và tính mạng của mỗi con người luôn được pháp luật bảo vệ và nghiêm trị bất cứ ai có hành vi xâm phạm đến nó một cách trái pháp luật; đồng thời hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cho nên, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, góp phần phòng chống tội phạm chung.
Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì ngày 27/5/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 88/2020/HS-ST ngày 27/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh chấp hành xong án phạt tù ngày 05/02/2022, chưa được xoá án tích. Ngày 02/9/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại là 80.000.000 đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trong vụ án này bị hại Tiền P cùng với L, P, T2 là người chủ động đánh bị cáo trước trong khi giữa bị hại và bị cáo không có mâu thuẫn gì với nhau, do đó bị hại Tiền P cũng có một phần lỗi. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với cây dao là hung khí mà bị cáo sử dụng để gây thương tích cho bị hại Tiền P, trên đường về đến cầu C bị cáo đã ném xuống sông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không thu hồi được cây dao này, do đó không đặt ra xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Đối với thương tích của Phan Vĩnh L, Nguyễn Tấn P và Nguyễn Văn T2 do không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu xử lý nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[9] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai bị nhóm của bị hại đánh. Tuy nhiên, qua quá trình xem xét dấu vết trên thân thể của bị cáo, bị cáo không có thương tích gì và bị cáo không yêu cầu giám định về thương tích nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[10] Đối với thương tích của Nguyễn Hoàng T1 do không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu xử lý nên không đặt ra xem xét. Đồng thời, trong quá trình bị cáo Tào H2 gây thương tích cho bị hại, giữa bị cáo và Nguyễn Hoàng T1 không có sự bàn bạc, không tham gia hô hào, kích động bị cáo, việc bị cáo gây thương tích cho bị hại do bị cáo tự gây ra nên không xử lý ông T1 với vai trò đồng phạm trong vụ án là có căn cứ.
[11] Riêng đối với Đoàn Văn L2, trong quá trình điều tra, L2 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiếp tục xác minh làm rõ để xem xét xử lý sau là có căn cứ.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về trách nhiệm hình sự, việc áp dụng pháp luật, về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tào H2 phạm Tội cố ý gây thương tích.
- Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Tào H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Tào H2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tội cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý
