Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Phạm Thị Bích Ngọc
    • Bà Hà Thị Nga.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 702024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 474/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 536/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: Số I Đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; nơi cư trú: Số H Cầu C, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 10/4/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C trình bày:

Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 02/3/2020. Đến nay có một con chung.

Quá trình chung sống: Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ tháng 8/2021 do hai bên không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, thường xuyên to tiếng cãi vã, cuộc sống nặng nề không có hạnh phúc. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được. Từ cuối năm 2021 đến nay hai bên đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay chị C xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 17/3/2020. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi con chung đến khi con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị C trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn H vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.

Tại các biên bản xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương thể hiện: Từ năm 2021 đến nay hai bên đã nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm trách nhiệm đến ai. Anh H đi làm xa nên thường xuyên vắng nhà, tuy nhiên gia đình đã nhận thay các văn bản tố tụng của Toà án và đã thông báo đầy đủ cho anh H.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng; bị đơn không chấp hành quy định về tố tụng.

Về nội dung quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H kết hôn từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 02/3/2020 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên nảy sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ cuối năm 2021 đến nay do bất đồng quan điểm sống, hai bên thường xảy ra cãi vã. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C, giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H có một con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 17/3/2020. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có quan điểm gì về việc nuôi con cho thấy anh H đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc nuôi con. Do vậy, cần tiếp tục giao con cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Hoàng P là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị C không yêu cầu nên không xét.

Về tài sản chung: Chị C trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự và xác minh của Tòa án thể hiện: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; có nơi cư trú: Số H Cầu C, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Văn H vắng mặt lần thứ 2 dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2020 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 02/3/2020 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

[4] Quá trình chung sống: Qua xác minh tại địa phương và đại diện gia đình cho thấy chị C và anh H thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Đến nay hai anh chị đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Quá trình giải quyết vụ án ly hôn tại Tòa án, anh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, đã được thông báo trực tiếp hoặc thông báo qua gia đình giấy triệu tập, thông báo của Tòa án nhưng không có ý kiến gì về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Điều đó cho thấy anh H đã từ bỏ quyền cũng như không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật, không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân, việc vợ chồng đã sống ly thân thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bởi vậy chị C yêu cầu được ly hôn anh H là có cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H có một con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 17/3/2020. Con chung hiện nay vẫn đang sống chung với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không hợp tác, không có ý kiến gì về việc nuôi con chung cho thấy anh H không thể hiện trách nhiệm của mình đối với con chung. Do vậy, cần giao con chung Nguyễn Hoàng Phát cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về tài sản chung: Chị C trình bày hai bên không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  • - Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Phát, sinh ngày 17/3/2020 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
  • - Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị C đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005841 ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.
  • - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND p. Lam Sơn, q. Lê Chân, tp. Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 02/3/2020);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn C- H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger