Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

1

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tiến

Bà Phan Thị Lan Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1996, tại Quảng Bình; tên gọi khác: Không; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Q, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1956, con bà: Hoàng Thị L (đã chết); anh chị em ruột: Có 02 chị em, H là con út; vợ: Diệp Thị Minh T1, sinh năm: 1996; con: Có 01 người con con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 21/11/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên toà theo lệnh trích xuất của Tòa án.

- Bị hại: Công ty Cổ phần B1; địa chỉ: Số B K, phường B, quận D, thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trung K – Tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc T2, sinh năm: 1989 và bà Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm: 1992 – ông bà đều là Phó quản lý cửa hàng F thuộc Công ty CP B1 (Theo giấy ủy quyền số 1291/2023/UQ-FPT ngày 21/11/2023 về việc làm việc với cơ quan tố tụng); địa chỉ: Số A đường T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.

2

Ông T2, bà T3 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đức T4, sinh năm: 1994; địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Anh T4 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 20/11/2023, Nguyễn Mạnh H là nhân viên đang làm việc tại Trung tâm bán lẻ 156 T - Quảng Bình, thuộc Chi nhánh Công ty cổ phần B1 tại Đà Nẵng), tại phường Đ. Do cần tiền để nộp vào tài khoản tiền điện tử trên mạng internet, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Trung tâm. Lợi dụng sơ hở của anh Lê Ngọc T2 là nhân viên quản lý, H sử dụng tài khoản nhân viên Công ty B1 mã INSIDE 22389 của H, đăng nhập vào phần mềm FPTShop nộp 15.000.000 vào ví Momo cá nhân, rồi tiếp tục nộp tiền vào tài khoản tiền điện tử, thực hiện lệnh đầu tư nhưng bị thua hết số tiền trên.

Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ 07 phút cùng ngày, vì muốn có tiền nộp vào tài khoản tiền điện tử tiếp, H lợi dụng lúc anh T2 không để ý nên mở quầy thu ngân, lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng, bỏ vào túi áo rồi đi qua Cửa hàng V ở gần đó, nộp 49.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H. Sau đó H tiếp tục nộp tiền vào tài khoản tiền điện tử để thực hiện lệnh đầu tư nhưng bị thua hết, 1.000.000 đồng còn lại H tiêu xài hết.

Lần thứ ba: Muốn kiếm lại số tiền đã mất nên H gọi điện thoại cho anh Lê Đức T4, chủ cửa hàng V ở số I đường T, để gợi ý anh T4 mua điện thoại di dộng Iphone. Do trước đó nhiều lần anh T4 đã mua điện thoại của Trung tâm nên hai người thống nhất mua 05 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, với giá 23.900.000 đồng/cái và 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax, với giá 30.500.000 đồng/cái. Anh T4 chuyển khoản 119.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, H lợi dụng anh T2 không để ý, đến mở tủ trưng bày điện thoại di động, lấy trộm 07 điện thoại di động hiệu Iphone, gồm 05 Iphone 14 promax màu tím, loại 128GB, và 02 Iphone 15 Promax màu titan tự nhiên. H cất giấu 07 điện thoại di động vào túi áo khoác và đem đi giao cho anh T4. Anh T4 tiếp tục chuyển số tiền 61.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H. Số tiền trên H vào tài khoản tiền điện tử để đầu tư nhưng bị thua hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL - ĐG ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 02 điện thoại đi động hiệu Iphone 15 Promax trị giá 34.990.000 đồng/chiếc, 05 điện thoại đi động hiệu Iphone 14 Promax trị giá 29.990.000 đồng/chiếc, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 219.930.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ đã thu giữ từ anh Lê Đức T4 và trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc T3, là người đại diện theo uỷ quyền của Trung tâm bán lẻ 156 T - Quảng Bình, 05 điện thoại di động

3

nhãn hiệu Iphone 14 promax và 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax; Thu giữ từ Nguyễn Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, 01 phiếu nhận thanh toán của Cửa hàng V, lưu vào hồ sơ vụ án; Thu giữ từ chị Nguyễn Thị Ngọc T3 là đại diện theo uỷ quyền của Trung tâm bán lẻ 156 T - Quảng Bình 01 USB hiệu Lexar chứa 02 file video là hình ảnh trích xuất các vụ trộm cắp tài sản trên, lưu vào hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Anh Lê Đức T4 yêu cầu H bồi thường 180.500.000 đồng, chị Nguyễn Thị Ngọc T3 yêu cầu H bồi thường 65.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSĐH-KT ngày 28 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo Nguyễn Mạnh H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; cần áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo Nguyễn Mạnh H thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Mạnh H từ 07 (Bảy) năm đến 07 năm 06 tháng (Bảy năm sáu tháng) tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo hiện nay không có công việc ổn định.

Vật chứng vụ án:

  • - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen thu giữ từ Nguyễn Mạnh H.
  • - Lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 phiếu nhận thanh toán của Cửa hàng V và 01 USB hiệu Lexar chứa 02 file video là hình ảnh trích xuất các vụ trộm cắp tài sản do bị cáo Nguyễn Mạnh H thực hiện.

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc Nguyễn Mạnh H phải bồi thường cho anh Lê Đức T4 số tiền 180.500.000 đồng và Công ty Cổ phần B1 số tiền 65.000.000 đồng.

Án phí HSST và án phí DSST bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu theo quy định của pháp luật.

4

Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tư cách tham gia tố tụng và sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, sự vắng mặt đại diện theo ủy quyền của bị hại không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của bị hại
  3. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Mạnh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng tài sản và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 20/11/2023, khi đang làm việc tại Trung tâm B2 có địa chỉ số A đường T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Nguyễn Mạnh H lợi dụng sơ hở của nhân viên quản lý đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị 284.930.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất: Vào lúc 17 giờ 50 phút ngày 20/11/2023, H đã sử dụng tài khoản nhân viên Công ty B1 đăng nhập vào phần mềm FPTShop nộp 15.000.000 đồng vào ví Momo của bị cáo. Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ 07 phút cùng ngày, bị cáo mở quầy thu ngân lấy trộm 50.000.000 đồng mục đích nộp tiền vào tài khoản điện tử để thực hiện lệnh đầu tư nhưng bị thua hết. Lần thứ ba: Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, H đến mở tủ trưng bày điện thoại di động lấy trộm 07 điện thoại di động hiệu Iphone, gồm 05 Iphone 14 promax màu tím, loại 128GB, và 02 Iphone 15 Promax màu titan tự nhiên. H cất giấu 07 điện thoại di động vào túi áo khoác và đem đi giao cho anh T4 do đã có sự thống nhất thỏa thuận từ trước. (Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL - ĐG ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 02 điện thoại đi động hiệu Iphone 15 Promax trị giá 34.990.000 đồng/chiếc, 05 điện thoại đi động hiệu Iphone 14 Promax trị giá 29.990.000

5

đồng/chiếc, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 219.930.000 đồng).

Hành vi của Nguyễn Mạnh H phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

  1. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Mạnh H là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Đ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe, kiến thức, có đủ trình độ văn hóa để nhận thức pháp luật, nhưng không chịu tu dưỡng làm ăn, chây lười lao động, hám lợi cá nhân, thích thụ hưởng, ham đầu tư vào tài khoản ảo với mong muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng, coi thường pháp luật nên đã trộm cắp tài sản. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách ngang nhiên, liều lĩnh, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ nguy hiểm mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly khỏi xã hội một thời gian mới trở thành người có ích cho xã hội.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

  1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo; tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  1. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Mạnh H không có công việc, không có thu nhập, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  1. Về vật chứng:
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, IMEI1: 357274099669129; IMEI2: 357274099457012, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; máy đã hết pin (theo biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 21/11/2023 của cơ

6

quan CSĐT Công an thành phố Đ). Đây là điện thoại bị cáo H dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu để sung quỹ nhà nước.

  • - Lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 phiếu nhận thanh toán của Cửa hàng V và 01 USB hiệu Lexar chứa 02 file video là hình ảnh trích xuất các vụ trộm cắp tài sản do bị cáo Nguyễn Mạnh H thực hiện.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ và trả lại cho Công ty Cổ phần B1 do chị Nguyễn Thị Ngọc T3 là đại diện theo ủy quyền nhận gồm các tài sản:
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 15 Pro Max, màu titan tự nhiên, loại 256Gb, IMEI1: 355319544493559; IMEI2: 355319543971563; còn nguyên vẹn, chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 15 Pro Max, màu titan tự nhiên, loại 256Gb, IMEI1: 354449440110998; IMEI2: 354449440334812; còn nguyên vẹn, chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, màu tím, loại 128Gb, IMEI1: 352872331988291; IMEI2: 352872331766887; còn nguyên vẹn, chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, màu tím, loại 128Gb, IMEI 1: 353751258439174; IMEI 2: 353751256102261; còn nguyên vẹn, chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, màu tím, loại 128Gb, số IMEI 1: 358457886130152, số IMEI 2: 358457886896935, còn nguyên vẹn, chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, màu tím, loại 128Gb, số IMEI 1: 358457886606714, số IMEI 2: 358457884349440, còn nguyên vẹn, chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, màu tím, loại 128Gb, số IMEI 1: 359236733712829, số IMEI 2: 359236733986910, còn nguyên vẹn chưa bóc hộp, chưa qua sử dụng.

Tại Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 29/12/2023. Chị T3 đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Công ty Cổ phần bán lẻ kỷ thuật số FPT yêu cầu H bồi thường 65.000.000 đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đức T4 yêu cầu H bồi thường 180.500.000 đồng. Xét thấy, hành vi phạm tội của Nguyễn Mạnh H đã xâm phạm đến tài sản của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được pháp luật bảo vệ. Từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa hôm nay, bị cáo chưa bồi thường cho Công ty Cổ phần B1 và anh Lê Đức T4; xét yêu cầu bồi thường của

7

Công ty Cổ phần B1 và anh Lê Đức T4 là có căn cứ. Tại phiên tòa bị cáo cũng chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần B1 và anh Lê Đức T4 và hứa sau khi ra tù sẽ lao động chân chính để có thu nhập nhằm bồi thường cho Công ty Cổ phần B1 và anh Lê Đức T4, nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận để buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải bồi thường cho Công ty Cổ phần B1 số tiền 65.000.000 đồng và anh Lê Đức T4 số tiền 180.500.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là 245.500.000 đồng.

  1. Các nhận định khác:

Đối với hành vi của anh Lê Đức T4 là người mua tài sản của bị cáo H nhưng đều không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với số tiền Nguyễn Mạnh H nộp vào tài khoản tiền điện tử trên mạng internet, cơ quan điều tra đã xác minh để thu hồi vật chứng nhưng chưa có kết quả, lúc nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa cần nhắc nhở để nâng cao ý thức phòng ngừa tội phạm chung.

  1. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới về tội danh, mức hình phạt phù hợp với các nhận định nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  1. Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 12.275.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/11/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Mạnh H 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc Nguyễn Mạnh H phải bồi thường cho Nguyễn Mạnh H phải bồi thường cho Công ty Cổ phần B1 số tiền 65.000.000 đồng và anh Lê Đức T4 số tiền 180.500.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là 245.500.000 đồng.

8

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về xử lý vật chứng:
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, IMEI1: 357274099669129; IMEI2: 357274099457012, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; máy đã hết pin. Bị tạm giữ theo biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 21/11/2023 của cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ.

(Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).

  • - Lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 phiếu nhận thanh toán của Cửa hàng V và 01 USB hiệu Lexar chứa 02 file video là hình ảnh trích xuất các vụ trộm cắp tài sản do bị cáo Nguyễn Mạnh H thực hiện.
  1. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 12.275.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

  1. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/5/2024) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp QB;
  • - VKSND thành phố Đồng Hới;
  • - Công an thành phố Đồng Hới;
  • - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - THA phạt tù; Lưu hồ sơ; Lưu TA

9

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Tuyết Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo qui định khoản 3 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger