|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-PT Ngày: 04-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn
Ông Lê Minh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thư Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Phan Minh T – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Hồng V và 07 bị cáo khác do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre và kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Phạm Hồng V (B), sinh năm 1983 tại tỉnh Bến Tre; nơi ĐKTT: Số C, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: lớp 10/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1957 và bà Trần Thị D, sinh năm 1957; vợ Đoàn Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2007; tiền án: không; tiền sự: có 02 tiền sự, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPHC ngày 20/7/2020 của Trưởng Công an thành phố B, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 2.250.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã nộp phạt); tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2387/QĐ-XPVPHC ngày 19/8/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép (chưa nộp phạt); nhân thân: tại Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 26/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 02 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 14/01/2006; tại Bản án số 03/2009/HS-ST ngày 09/01/2009 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử phạt 08 tháng 16 ngày tù về “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm”, đã chấp hành xong; tại Bản án số 115/2014/HS-PT ngày 09/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã xử phạt 03 năm 06 tháng tù về “Tội buôn bán hàng cấm”, đã chấp hành xong; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Dương Gia B1, sinh năm 2003 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số A, ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: lớp 8/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Dương Thanh D1, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Thanh T2; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Đỗ Hồng N, sinh năm 1980 tại tỉnh Bến Tre; nơi ĐKTT: Số B, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm spa; trình độ văn hóa: lớp 12/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Đỗ Hữu H1 (chết) và bà Đoàn Thị C, sinh năm 1949; chồng Đặng Kim L, sinh năm 1973; con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 81/2008/HS-PT ngày 18/4/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về “Tội lưu hành tiền giả”, chấp hành xong ngày 18/4/2013; tại Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày 12/4/2021 Trưởng phòng Phòng C4, Công an tỉnh B đã xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 13/4/2021; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Phạm Quốc C1, sinh năm 1977 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số B, Khu phố A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: lớp 5/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn V1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Ngọc Ử, sinh năm 1955; vợ: Võ Thị Ngọc D2, sinh năm 1980; con: có 01 con, sinh năm 1998; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án số 14/2015/HSST ngày 07/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã xử phạt 09 năm tù về “Tội giết người”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/10/2020; tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định số 241/PC.16 ngày 06/02/1996 của Công an tỉnh B đã đưa đi cải tạo tập trung với thời gian 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản; tại Bản án số 71/1996/HS-ST ngày 12/11/1996 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre đã xử phạt 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 122/2003/HS-ST ngày 17/4/2003 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 03 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Lê Minh T3, sinh năm 1991 tại tỉnh Bến Tre; nơi ĐKTT: Số E, ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số A, Ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 8/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Văn L1 (chết) và bà Võ Thị Huỳnh L2, sinh năm 1971; vợ. Nguyễn Huỳnh N1, sinh năm 1992, có 01 người con sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Trần Thị Thanh T4, sinh năm 1966 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số C, Ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: lớp 9/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Trần Hữu Q (chết) và bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1942; chồng: Bùi Thanh T5, sinh năm 1968; con: có 01 con sinh năm 1990; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Thị L3, sinh năm 1983 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số C, ấp L (Ấp G), xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hóa: lớp 4/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1963 và bà Lê Thị R, sinh năm 1956; chồng: Lê Công L4, sinh năm 1983; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 141/2002/HSST ngày 26/4/2002 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 01 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Phạm Văn T6, sinh năm 1960 tại tỉnh Tiền Giang; nơi ĐKTT: Số E đường N, Khu phố G, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở hiện nay: Số C, Khu phố B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: lái xe ôm; trình độ văn hóa: lớp 5/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn C2 (chết) và bà Ngô Thị Q1 (chết); vợ: Nguyễn Thị N3, sinh năm 1970; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án số 84/2012/HSST ngày 30/3/2012 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 05 tháng tù về “Tội đánh bạc”, chưa chấp hành xong phần dân sự; tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định số 6469/QĐ ngày 10/9/1979 của Ủy ban nhân dân Thành phố H đã đưa đi tập trung cải tạo 03 năm về hành vi cướp giật tài sản; ngày 30/11/1983, bị Công an tỉnh T bắt về “Tội trộm cắp tài sản” và bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử 12 tháng tù giam; ngày 06/01/1987 bị Công an tỉnh T đưa đi cải tạo 03 năm về hành vi trộm cắp tài sản; tại Quyết định số 02/CA-QĐ ngày 16/9/1991 của Công an tỉnh B đã buộc cưỡng bức lao động 02 năm về hành vi đánh bạc; ngày 27/9/1994, bị Công an tỉnh T bắt về hành vi đánh bạc và bị xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng; tại Quyết định số 98/QĐ ngày 14/10/1996 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tại Bản án số 64/HSST ngày 29/4/1998 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã xử phạt 12 tháng tù về “Tội tổ chức đánh bạc” và “Tội đánh bạc”; tại Bản án số 152/HSST ngày 27/8/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 02 năm tù về “Tội tổ chức đánh bạc”; tại Bản án số: 389/2014/HSST ngày 11/9/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 05 tháng tù về “Tội tổ chức đánh bạc”; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hồng V và bị cáo Đỗ Hồng N: Ông Huỳnh Minh T7 – Luật sư Công ty L8 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, có mặt;
(Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Dương Hữu D3, Nguyễn Minh H2, Phan Văn S, Trần Quốc D4, Nguyễn Văn S1, Trần Thị Ngọc H3, Trần Văn H4, Đặng Văn T8, Nguyễn Văn T9, Trần Hoài L5, Trần Trọng Đ, Nguyễn Thành V2, Nguyễn Thị Thùy T10 nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 18/7/2022, Công an xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre bắt quả tang các đối tượng tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền tại Phòng số 11 nhà nghỉ A ở ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre, thu giữ tang vật gồm: 06 (sáu) hột xúc xắc (hột xí ngầu) sáu mặt, mỗi mặt có từ 1 đến 6 nút đỏ hoặc đen; Tiền Việt Nam 3.200.000 đồng (thu tại chiếu bạc).
Khám xét trên người của các đối tượng có liên quan và xung quanh hiện trường, cụ thể: Đỗ Hồng N: Tiền Việt Nam 58.000 đồng; 01 (Một) xe mô tô hiệu HAYATE, màu nâu vàng, Biển số 71H7-9329 và 01 (Một) điện thoại di động Iphone 8. Dương Gia B1: 01 (Một) xe mô tô Biển số 71AA-115.36, hiệu Dream, màu nâu. Nguyễn Minh H2: Tiền Việt Nam 47.200.000 đồng và 01 (Một) nón vải. Phan Văn S: Tiền Việt Nam 700.000 đồng và 01 (Một) điện thoại di động Samsung màu trắng. Đặng Văn T8: Tiền Việt Nam 3.500.000 đồng và 01 (Một) điện thoại di động Nokia màu xanh. Phạm Quốc C1: 01 (Một) xe mô tô Biển số 59K1-174.24; tiền Việt Nam 70.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6, màu bạc. Nguyễn Thị L3: Tiền Việt Nam 13.700.000 đồng. Phạm Văn T6: Tiền Việt Nam 16.100.000 đồng và 01 (Một) điện thoại di động N5 màu đỏ và 01 (Một) xe mô tô Biển số 7181-5531. Nguyễn Văn S1: 01 (Một) điện thoại di động N5 màu đen; 01 xe mô tô hiệu NOUVO 4, màu đỏ, Biển số 71B1-071.95 và tiền Việt Nam 5.500.000 đồng. Trần Thị Thanh T4: 01 (Một) xe mô tô Biển số 71B1-488.55, hiệu SIRIUS, màu đỏ đen. Lê Minh T3: 01 (Một) điện thoại di động Iphone, màu trắng; 01 (Một) xe mô tô Biển số 71B4-572.33, hiệu FUTURE, màu trắng và tiền Việt Nam 17.000.000 đồng. Trần Văn H4: 01 (Một) xe mô tô Biển số 71H2-4768, hiệu Wave, màu đen, tiền Việt Nam 335.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động N5 màu đen. Nguyễn Văn T9: 01 (Một) xe mô tô Biển số 71F8-0147, hiệu Dream, màu nâu. Trần Hoài L5: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu SYMAX, màu đen đỏ, Biển số 71B4-599.79; 01 (Một) điện thoại di động Iphone màu vàng và tiền Việt Nam 17.700.000 đồng. Nguyễn Thị Thùy T10: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe RSX, màu đỏ đen, Biển số 71B4-813.58; 01 (Một) điện thoại di động N5 và tiền Việt Nam 5.600.000 đồng. Trần Thị Ngọc H3: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu ATILA, màu nâu, Biển số 71B1-500.19; 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6, màu vàng và tiền Việt Nam 26.223.000 đồng. Trần Quốc D4: 01 (Một) điện thoại di động Samsung màu xanh và tiền Việt Nam 600.000 đồng. Nguyễn Thành V2: 01 (Một) điện thoại di động Vivo màu xanh và tiền Việt Nam 100.000 đồng. Trần Trọng Đ: 01 (Một) xe mô tô hiệu Exciter, màu xanh, Biển số 71B1-752.26. Tổng số tiền tham gia đánh bạc thu được là 11.728.000 đồng (trong đó: tại chiếu bạc là 3.200.000 đồng, số tiền trong người của các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.528.000 đồng).
Quá trình điều tra đã xác định: Phạm Hồng V tổ chức đánh bạc tại Phòng số 11 nhà nghỉ Anh D (do Trần Nhứt D5 làm chủ) ở ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/7/2022 dưới hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền thu hút khoảng 20 đến 30 người chơi bài trong tỉnh Bến Tre, tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp đến tham gia. V thuê Dương Hữu D3 và Dương Gia B1 làm nhiệm vụ cảnh giới và mở cửa cổng cho người tham gia đánh bạc vào sòng bạc. Mỗi ngày khi kết thúc sòng bạc V trả công cho D3 và B1 từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/người/ngày. Khi những người tham gia đánh bạc vào tham gia lắc tài xỉu, ai có nhiều tiền đứng ra làm cái lắc tài xỉu và tự hiểu với nhau khi lắc lên “bão” thì V và người lắc tài xỉu chia nhau với tỷ lệ 50/50 số tiền thắng được. Hình thức lắc tài xỉu là người lắc cho 03 hột xí ngầu vào hộp nhựa rồi úp lại để lắc với quy ước người tham gia đánh bạc đặt phía các ô số 1, 2, 3 là đặt xỉu, đặt phía các ô 4, 5, 6 là đặt tài, người đánh bạc có thể chọn bên tài hoặc bên xỉu để đặt tiền. Sau khi lắc và mở hộp, nếu tổng số điểm các mặt ngửa của 03 hột xí ngầu từ 11 điểm đến 17 điểm thì người đánh bạc đặt cửa tài sẽ thắng người đánh bạc đặt cửa xỉu; nếu tổng điểm từ 4 điểm đến 10 điểm thì người đánh bạc đặt cửa xỉu thắng người đánh bạc đặt cửa tài. Trường hợp 03 hột xí ngầu ra mặt ngửa giống nhau thì gọi là “bão”. Khi đó, nhà cái sẽ ăn hết số tiền của người đánh bạc đặt bên tài nếu là “bão” xỉu hoặc ăn hết số tiền của người đánh bạc đặt bên xỉu nếu là “bão” tài. Để hỗ trợ cho người làm cái quản lý số tiền đặt cược, thu tiền, chung tiền cho người đánh bạc tham gia đặt tài xỉu, người làm cái sẽ tìm người để hỗ trợ gọi là “làm vĩ”.
Ngày 18/7/2022, Phạm Hồng V tổ chức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền. Nguyễn Minh H2 là người lắc cái, H2 lấy 3.000.000 đồng lắc cái khoảng 10 ván thì xảy ra cự cãi H2 nghỉ lắc thắng được số tiền 200.000 đồng và giao lại cho Phan Văn S làm người lắc cái. S lấy số tiền 7.700.000 đồng để lắc cái và nhờ Đặng Văn T8 “làm vĩ”, S lấy 3.000.000 đồng đưa cho T8 giúp thu tiền, trả tiền thắng cho người đánh bạc. Khi có “bão” Sang trả công cho T8 số tiền 200.000 đồng/lần “bão”, số người tham gia đặt tài xỉu khoảng 20 người. S làm cái đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị Công an bắt quả tang.
Các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc:
- Phạm Hồng V: tổ chức sòng bạc với hình thức lắc tài xỉu tại Phòng số 11 nhà nghỉ A ở ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Nhà nghỉ do V thuê và giao lại cho Đỗ Hồng N quản lý. V thuê và trả tiền công từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng cho Dương Hữu D3 và Dương Gia B1 có nhiệm vụ canh gác, hướng dẫn cho người đánh bạc vào sòng bạc, cảnh giới lực lượng chức năng và thu tiền “bão”. Ngày 18/7/2022, Nguyễn Minh H2 là người lắc cái có 01 ván “bão”, chia tiền “bão” cho V 1.200.000 đồng. Đến Phan Văn S là người lắc cái có 01 ván “bão”, chia tiền “bão” cho V 800.000 đồng, hưởng lợi số tiền 2.000.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang.
- Dương Gia B1: do có quen biết với nhau bên ngoài xã hội nên B1 điện thoại cho V xin vào làm việc thì V nhận và thuê làm nhiệm vụ cảnh giới, canh gác, hướng dẫn người đánh bạc vào sòng bạc và thu tiền “bão”. Ngày 18/7/2022, B1 có nhận từ Đỗ Hồng N 01 ván “bão” số tiền 1.200.000 đồng do Nguyễn Minh H2 là người lắc cái. B1 giúp sức cho V thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng. V trả công cho B1 200.000 đồng.
Các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc:
- Đỗ Hồng N: sống chung với V như vợ chồng và cùng quản lý nhà nghỉ A. Ngày 18/7/2022, N biết việc V sử dụng Phòng số 11 nhà nghỉ Anh D để tổ chức lắc tài xỉu. Nguyễn Minh H2 là người lắc cái đưa tiền “bão” cho N nhận số tiền 1.200.000 đồng, N đưa tiền “bão” cho Dương Gia B1 để giao lại cho V. Khi Phan Văn S là người lắc cái đưa tiền “bão” cho N nhận số tiền 800.000 đồng, N đưa tiền “bão” cho Dương Hữu D3 để giao lại cho V. N sử dụng số tiền 1.258.000 đồng để đánh bạc do Phan Văn S lắc cái, thua hết 1.200.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ trên người Ngân số tiền 58.000 đồng.
- Dương Hữu D3: do quen biết với nhau ngoài xã hội nên D3 điện thoại cho V xin việc làm thì V nhận và thuê làm nhiệm vụ cảnh giới, canh gác, hướng dẫn người đánh bạc vào sòng bạc để tham gia đánh bạc và thu tiền “bão”. Ngày 18/7/2022, D3 có nhận từ Đỗ Hồng N 01 ván “bão” số tiền 800.000 đồng do Phan Văn S là người lắc cái. Diện giúp sức cho V thu lợi bất chính số tiền 800.000 đồng. V trả công cho D3 200.000 đồng. Dương Hữu D3 tham gia đánh bạc đem theo số tiền 350.000 đồng do Nguyễn Minh H2 là người lắc cái, tham gia 03 ván, mỗi ván đặt cược 150.000 đồng, thua hết 350.000 đồng.
Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc:
- Nguyễn Minh H2: trước đó, V điện thoại rủ H2 đến nhà nghỉ A tham gia lắc tài xỉu. Đến trưa ngày 18/7/2022, H2 đi từ thành phố M, tỉnh Tiền Giang đến nhà nghỉ A tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu. H2 sử dụng 3.000.000 đồng trong số tiền đem theo là 50.000.000 đồng để tham gia chơi tài xỉu ăn thua bằng tiền với vai trò là người lắc cái, lúc H2 làm cái có 08 người tham gia đánh bạc. Nghỉ lắc cái, Hiếu thắng được 200.000 đồng thì Phan Văn S vào thay H2 là người lắc cái, H2 sử dụng số tiền 3.200.000 đồng tham gia đánh bạc thua 3.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ của H2 200.000 đồng. Riêng số tiền 47.000.000 đồng, H2 bỏ trong túi quần sau bên phải, đem theo để trả nợ cho một người bạn ở xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre, không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Phan Văn S: Chiều ngày 18/7/2022, S thuê xe ô tô đi từ huyện C, tỉnh Đồng Tháp đến nhà nghỉ A để tham gia lắc tài xỉu. Khi đi, S sử dụng 7.700.000 đồng đem theo dùng vào mục đích đánh bạc với vai trò là người lắc cái. S nhờ Đặng Văn T8 tham gia thu tiền, chung tiền thắng cho người đánh bạc. Số tiền thắng “bão”, S trả công cho người làm “vĩ” 200.000 đồng. Trong lúc S làm cái lắc tài xỉu có khoảng 10 người tham gia đánh bạc thì bị bắt quả tang. S thua số tiền 4.000.000 đồng, tạm giữ 700.000 đồng.
- Đặng Văn T8: khoảng 14 giờ ngày 18/7/2022, Đặng Văn T8 điều khiển xe mô tô Biển số 71B4-572.33, hiệu FUTURE, màu trắng chở Lê Minh T3 đi từ nhà T3 tại Ấp C, xã S, thành phố B đến nhà nghỉ A để tham gia đánh bạc. T8 đem theo 600.000 đồng nhưng không tham gia đánh bạc mà phụ S làm “vĩ” phụ thu tiền, chung tiền thắng cho người đánh bạc, S đưa số tiền 3.000.000 đồng cho T8. Khi S đang lắc tài xỉu thì bị bắt quả tang. T8 thu lợi bất chính 200.000 đồng từ việc tham gia làm “vĩ” và tạm giữ 3.500.000 đồng.
- Trần Trọng Đ: khoảng 13 giờ ngày 18/7/2022, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, màu xanh, Biển số 71B1-752.26 chở Bùi Hữu Đ1, sinh năm: 1971, nơi thường trú: Số A, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre, đi từ xã M, thành phố B đến đầu hẻm nhà nghỉ A thì Đ1 xuống xe. Đ điều khiển xe mô tô vào nhà nghỉ A để tham gia đánh bạc. Khi đi, Đ đem theo 1.500.000 đồng, đặt cược ba ván, mỗi ván đặt cược 500.000 đồng, thua 1.500.000 đồng.
- Phạm Quốc C1: khoảng 14 giờ ngày 18/7/2022, C1 điều khiển xe mô tô Biển số 59K1-174.24, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu đen đến Phòng số 11 nhà nghỉ Anh D để tham gia đánh bạc. Khi đi, C1 đem theo 1.070.000 đồng để đánh bạc. C1 tham gia 02 ván, mỗi ván 200.000 đồng do Nguyễn Minh H2 là người lắc cái, thua hết. Sau đó, Phan Văn S thay H2 là người lắc cái, C1 sử dụng 670.000 đồng để đánh bạc, đặt cược 03 ván, thua 600.000 đồng. Khi bị bắt quả tang tạm giữ số tiền 70.000 đồng.
- Nguyễn Thị L3: Lượm sử dụng 200.000 đồng, đặt cược 04 ván do H2 lắc cái, thua hết 200.000 đồng;
- Phạm Văn T6: T6 sử dụng 500.000 đồng để tham gia đánh bạc do H2 lắc cái. T6 đặt cược 04 đến 05 ván, thua 400.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thu giữ 100.000 đồng;
- Nguyễn Văn S1: S1 sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. S1 đặt cược 05 ván do H2 lắc cái, thua hết 500.000 đồng. Khi bị bắt quả tang tạm giữ 500.000 đồng;
- Trần Thị Thanh T4: T4 sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc. T4 đánh bạc do Nguyễn Minh H2 lắc cái, đặt cược 05 ván, thua hết 250.000 đồng. Đến Phan Văn S lắc cái, T4 tiếp tục sử dụng 100.000 đồng tham gia đặt cược 02 ván, thua hết 100.000 đồng.
- Lê Minh T3: T3 sử dụng 1.000.000 đồng tham gia đánh bạc do Nguyễn Minh H2 lắc cái, T3 thua 900.000 đồng. Đến Phan Văn S lắc cái, T3 đặt cược 02 ván, thua 100.000 đồng.
- Trần Văn H4: H4 sử dụng 335.000 đồng để tham gia đánh bạc do Phan Văn S lắc cái. H4 đặt cược 03 ván, huề vốn. Khi bị bắt quả tang thu giữ 335.000 đồng;
- Nguyễn Văn T9: T9 sử dụng 400.000 đồng tham gia đánh bạc, do Phan Văn S lắc cái, đặt cược 02 ván, thua 400.000 đồng;
- Trần Hoài L5: L5 sử dụng 800.000 đồng đánh bạc do S lắc cái, L5 đặt cược 04 đến 05 ván, thắng 700.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thu giữ 1.500.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thùy T10: T10 sử dụng 300.000 đồng để tham gia đánh bạc do S lắc cái, T10 đặt cược 02 ván, thua 300.000 đồng nghỉ.
- Trần Thị Ngọc H3: H3 sử dụng 2.223.000 đồng để đánh bạc, do S lắc cái, H3 đặt cược khoảng 07 đến 08 ván, thua 1.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang tạm giữ 1.223.000 đồng.
- Trần Quốc D4: D4 sử dụng 600.000 đồng dùng để đánh bạc, do S lắc cái. D4 đặt cược 05 đến 06 ván, huề vốn. Khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền 600.000 đồng.
- Nguyễn Thành V2: V2 sử dụng 1.200.000 đồng dùng để đánh bạc, do S lắc cái, thua hết 1.100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền 100.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền tham gia đánh bạc do Nguyễn Minh H2 lắc cái là 8.970.000 đồng, có 08 người tham gia và do Phan Văn S lắc cái là 18.886.000 đồng, có 13 người tham gia.
Bị cáo N và người bào chữa cho bị cáo N cho rằng bị cáo N không phạm tội tổ chức đánh bạc, thấy rằng qua điều tra bị cáo tự nguyện khai báo, thể hiện bị cáo N biết Phạm Hồng V tổ chức đánh tài xỉu, trong khi N và V cùng là chủ quản lý nhà nghỉ, N trực tiếp tham gia đánh bạc và nhận tiền “Bão” từ H2 và S giao lại cho D3 và B1 để giao lại cho V, thể hiện vai trò giúp sức cho V trong việc tổ chức đánh bạc.
Người bào chữa cho bị cáo V cho rằng bị cáo V chỉ rủ 02 người tham gia đánh bạc và số người ra vào bị cáo không kiểm soát được, tuy nhiên số tiền bão bị cáo V nhận là từ nhiều người tham gia đánh bạc mà có.
Với ý thức, hành vi, số tiền tham gia đánh bạc, nhân thân đã nêu trên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã xét xử và tuyên bố:
Bị cáo Phạm Hồng Vi p “Tội tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b, đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
Đỗ Hồng N phạm “Tội tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Dương Gia B1 phạm “Tội tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
Các bị cáo Phạm Quốc C1, Lê Minh T3, Trần Thị Thanh T4, Nguyễn Thị L3 và Phạm Văn T6 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm khi áp dụng hình phạt tù đã xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau:
- Bị cáo Phạm Hồng V có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án, có 02 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép”. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “Có người thân được tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo với vai trò là người chủ mưu, giữ vai trò cao nhất trong vụ án, bị cáo trực tiếp tổ chức, đồng thời bị cáo là người thu lợi nhiều nhất từ việc tổ chức đánh bạc. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới để làm căn cứ giảm hình phạt, với mức hình phạt 02 năm tù là phù hợp (do bị cáo có tiền sự lại tiếp tục phạm tội cùng hành vi và là người chủ mưu) nên được giữ nguyên và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Bị cáo Đỗ Hồng N mặc dù không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu đã từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Có nghĩa vụ nuôi con chưa thành niên” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo là người đứng ra thuê nhà trọ và cùng với V tổ chức đánh bạc với vai trò là người giúp sức, thu tiền “bão” trong cả hai chiếu bạc giúp bị cáo V trong lần phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Trong lần phạm tội đánh bạc bị cáo là người chơi, tham gia đặt cược ăn thua với người lắc cái. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng là lao động chính trong gia đình, nuôi 02 con ăn học. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu với mức hình phạt 01 năm 09 tháng cho cả hai tội tù là phù hợp được giữ nguyên và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Bị cáo Phạm Quốc C1 có nhân thân xấu, bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích và tham gia đánh bạc do H2 và S lắc cái nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Có bà ngoại là Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án án này, bị cáo là người chơi, tham gia đặt cược ăn thua với người lắc cái. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, với mức hình phạt 09 tháng tù (do bị cáo có tiền án) là phù hợp được giữ nguyên và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Bị cáo Phạm Văn T6 có tiền án, bị cáo đã nhiều lần bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án án này, bị cáo là người chơi, tham gia đặt cược ăn thua với người lắc cái. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng bản thân bị bệnh phổi, hiện chăm sóc vợ bị tai biến nhưng không cung cấp giấy tờ chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Với mức hình phạt 09 tháng tù là phù hợp nên được giữ nguyên và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Thị L3 không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo đã từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Có nghĩa vụ nuôi con chưa thành niên” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án án này, bị cáo là người chơi, tham gia đặt cược ăn thua với người lắc cái. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng có ba con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, số tiền tham gia đánh bạc ít. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù và không cho bị cáo hưởng án treo hay áp dụng hình phạt khác là phù hợp nên được giữ nguyên.
- Bị cáo Dương Gia B1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo với vai trò là người giúp sức, thu tiền “bão”, thực hiện việc canh gác cửa theo yêu cầu của bị cáo V ở cả 02 chiếu bạc. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ có ông C3 (ông Dương Văn T12) là liệt sĩ, cha (ông Dương Văn L7) được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì (theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
- Bị cáo Lê Minh T3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Có nghĩa vụ nuôi con chưa thành niên” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án án này, bị cáo là người chơi, tham gia đặt cược ăn thua với người lắc cái. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là lao động chính trong gia đình (theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
- Bị cáo Trần Thị Thanh T4 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án án này, bị cáo là người chơi, tham gia đặt cược ăn thua với người lắc cái. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là có mẹ già, bản thân có bệnh, có người anh được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và thể hiện ăn năn hối hận;
Xét yêu cầu của các bị cáo B1, Minh T13 và Thanh T4, thấy rằng các bị cáo có nhân thân tốt, có thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo Minh T13 và Thanh T4 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Việc cho các bị cáo B1, Minh T13 và Thanh T4 được hưởng án treo không vi phạm Hướng dẫn số 02/VBHN/TANDTC ngày 07/9/2022 về việc cho hưởng án treo nên chấp nhận kháng cáo của các bị cáo B1, Minh T13 và Thanh T4, sửa Bản án sơ thẩm.
Xét yêu cầu của bị cáo Thanh T4 về tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên”, thấy rằng, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Minh T3 và Thanh T4 đều cho rằng vào ngày 18/7/2022 chỉ có một sòng bạc tại Phòng số 11 nhà nghỉ Anh D5 và khi Nguyễn Minh H2 làm cái đứng lên nghỉ thì Phan Thanh S2 vào làm cái, phù hợp với lời khai của Nguyễn Minh H2 “Sau khi tôi nghỉ S2 vào thay tôi lắc cái” (BL 1371) và “S2 vào thay tôi lắc cái” (BL 1379). Như vậy, sòng bạc mang tính liên tục trong đó các bị cáo còn tiếp tục tham gia cá cược là Lê Minh T3, Trần Thị Thanh T4 và Phạm Quốc C1. Nên chưa có cơ sở vững chắc để áp dụng tình tiết phạm tội hai lần trở lên đối với các bị cáo.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thanh T4 về hình phạt bổ sung, thấy rằng hoàn cảnh gia đình của bị cáo không thuộc diện hộ nghèo hay cận nghèo nên không có cơ sở miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đối với số tiền 3.200.000 đồng, thấy rằng qua điều tra tuy chưa xác định là của ai, nhưng là số tiền được thu tại chiếu bạc, vụ án truy tố đối với 21 bị can và Tòa án xét xử sơ thẩm đối 21 bị cáo nên số tiền thu giữ này là vật chứng vụ án cần được giải quyết trong cùng vụ án này. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre kháng nghị đề nghị tịch thu số tiền 3.200.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước là có cơ sở nên được chấp nhận.
Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Hồng V, Đỗ Hồng N, Phạm Quốc C1, Phạm Văn T6 và Nguyễn Thị L3 giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Dương Gia B1, Lê Minh T3 và Trần Thị Thanh T4, sửa quyết định của Bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Các bị cáo không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm; các bị cáo được chấp nhận kháng cáo không phải chịu án phúc thẩm. Đối với bị cáo T6 là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên, quan điểm của người bào chữa cho bị cáo có phần không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Hồng V, Đỗ Hồng N, Phạm Quốc C1, Phạm Văn T6, Nguyễn Thị L3, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Dương Gia B1, Lê Minh T3, Trần Thị Thanh T4 và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre sửa quyết định của Bản án sơ thẩm.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm a, b, đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về “Tội tổ chức đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng N 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đỗ Hồng N chấp hành chung cho cả hai tội là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc C1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T6 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L3 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Gia B1 01 (một) năm tù. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 04/5/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Minh T3 06 (sáu) tháng tù. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 04/5/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh T4 06 (sáu) tháng tù. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 04/5/2024.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Tuyên bố các bị cáo Phạm Hồng V, Dương Gia B1 phạm “Tội tổ chức đánh bạc”; bị cáo Đỗ Hồng N phạm “Tội tổ chức đánh bạc” và “Tội đánh bạc”; các bị cáo Phạm Quốc C1, Lê Minh T3, Trần Thị Thanh T4, Nguyễn Thị L3 và Phạm Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.
Giao bị cáo Dương Gia B1 về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre để giám sát, giao dục. Gia đình của bị cáo phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lê Minh T3 về cho Ủy ban nhân xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Thị Thanh T4 về cho Ủy ban nhân xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Thanh T4 số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với các bị cáo được hưởng án treo, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Tịch thu số tiền 3.200.000 (Ba triệu hai trăm nghìn) đồng để nộp ngân sách nhà nước.
(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre đang quản lý)
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phạm Hồng V, Đỗ Hồng N, Phạm Quốc C1 và Nguyễn Thị L3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo Dương Gia B1, Lê Minh T3, Trần Thị Thanh T4 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Phạm Văn T6.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tỉnh |
Bản án số 31/2024/HS-PT ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và tội đánh bạc
- Số bản án: 31/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về Tội tổ chức đánh bạc và Tội đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội tổ chức đánh bạc
