|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST |
|
|
Ngày: 03-7-2024 |
|
|
V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Phượng;
- Ông Trần Văn Tảo.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phan Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXX-ST ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; cư trú tại ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt;
- Bị đơn: anh Huỳnh Thanh L, sinh năm 1971; cư trú tại tổ A, ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Vào năm 1994, chị T và anh L tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào năm 2002. Sau khi đăng ký kết hôn, anh chị sống chung hạnh phúc thời gian dài; cùng nhau làm nghề mua bán ve chai. Đến năm 2022, vợ chồng bất đầu phát sinh mẫu thuẫn, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, anh L thường xuyên uống rượu, bài bạc (chưa bị cơ quan nhà nước xử lí lần nào) nhưng ngày càng mê chơi, không làm ăn, đòi hỏi chị đưa tiền để chi xài. Chị khuyên can nhưng anh L không thay đổi; 02 con chung đều trưởng thành cũng khuyên nhưng anh L vẫn mê chơi, không chăm lo gia đình. Xét thấy không còn tình cảm vợ chồng nên chị T xin được ly hôn với anh L.
Về con chung: chị và anh L có 02 con chung đều đã trên 18 tuổi, khỏe mạnh gồm Huỳnh Thanh B, sinh năm 1994 và Huỳnh Bình T1, sinh năm 1997. Nếu ly hôn, chị không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận với anh L, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là anh Huỳnh Thanh L không đồng ý ly hôn, không còn trình bày gì khác.
Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị T, chị T được ly hôn với anh Huỳnh Thanh L. Về con chung: đã trên 18 tuổi, chị T không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:
- Về tố tụng: anh Huỳnh Thanh L vắng mặt dù được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.
- Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh Huỳnh Thanh L đã tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào năm 2002, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T trình bày: quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc từ năm 2022 do anh L không chăm lo gia đình, chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh L không thay đổi; do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn. Anh L không đồng ý ly hôn, không nêu rõ nguyên nhân mâu thuẫn; anh L cũng không đến Tòa án đưa ra các giải pháp để hàn gắn tình cảm với chị T. Xét thấy mục đích khi kết hôn là hướng tới xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, cùng nhau có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc gia đình nhưng anh L không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng; chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, chị T được ly hôn với anh L.
- Về con chung: anh chị có 02 con chung là Huỳnh Thanh B, sinh năm 1994 và Huỳnh Bình T1, sinh năm 1997. Chị T không yêu cầu giải quyết về con chung vì trên 18 tuổi nên ghi nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định.
- Ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Huỳnh Thanh L.
- Về con chung: Gồm có 02 người là Huỳnh Thanh B, sinh năm 1994 và Huỳnh Bình T1, sinh năm 1997 đều trên 18 tuổi, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo theo biên lai thu số 0004851 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Riêng đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
