Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Thi Thị Thanh Trúc;
  2. Ông Lữ Khắc Hồi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vịnh Trí, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trầm Minh M, sinh ngày 24/8/2002, tại Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; cha: Trầm Văn T, sinh năm 1973; mẹ: Trương Thị Thùy D, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: có 01 người, sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: Không; bị cáo Trầm Minh M1 bị tạm giữ hình sự ngày 19/12/2023 đến ngày 22/12/2023 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh (Bị cáo có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 10/9/2002, tại Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; cha: Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1980; mẹ: Kiến Thị Mộng T1, sinh năm 1979; vợ: Nguyễn Thị Xuân M2, sinh năm 2002; con: Có 01 người, sinh năm 2021; anh, chị em ruột: có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: 01 lần (Vào ngày 18/9/2022, Nguyễn Ngọc H đã có hành vi “Cố ý gây thương tích" nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 6.500.000 đồng, H chưa chấp hành đóng phạt); bị cáo Nguyễn Ngọc H bị tạm giữ hình sự ngày 19/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý và bán lại kiếm lời nên vào đêm 17/12/2023, Trầm Minh M1, ngụ ấp T, xã M, huyện C, nhờ Nguyễn Ngọc H, ngụ ấp H, xã Đ, huyện C, liên hệ mua ma tuý dùm thì H liền đồng ý. Lúc này, M1 điều khiển xe mô tô hai bánh mang biển số 84B2-044.08 chở H đến khu vực thành phố T, gặp một người thanh niên không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể để mua ma tuý. Khi mua được ma tuý, M1 đem về nhà chia nhỏ ra làm 05 tép với mục đích dễ sử dụng và dễ bán, sau khi chia nhỏ ra làm 05 tép ma tuý M1 bỏ vào túi ni lon màu trắng, loại vuốt mép rồi dùng băng keo màu đen quấn túi ni lon lại. Đến sáng ngày 18/12/2023, M1 đem ma tuý đến bụi chuối cặp bờ kênh thuộc ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, để cất giấu.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Trương Công H2, ngụ ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, sử dụng tài khoản Zalo “Hoàng Nhỏ” liên hệ với M1 qua tài khoản Zalo “Minh M1” để mua ma tuý với số tiền là 500.000 đồng thì M1 đồng ý. Do M1 đang đi chơi nên M1 sử dụng tài khoản Messenger tên “Trầm Minh M1” điện thoại vào tài khoản Messenger của H tên “Nguyễn Ngọc H” nhờ giao ma tuý dùm thì H đồng ý và M1 chỉ chổ cất giấu ma tuý cho H biết. H điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 84B2-044.08 chạy đến bụi chuối cặp bờ kênh nơi M1 cất giấu để lấy ma tuý. Sau đó, H sử dụng tài khoản Messenger tên “Nguyễn Ngọc H” liên hệ với H2 qua tài khoản Messenger tên “Hoàng Nhỏ” hẹn địa điểm giao ma tuý là đường vào chùa M3 thuộc ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. H cầm túi ma tuý trên tay và điều khiển xe mô tô đến địa điểm đã hẹn đợi H2 đến lấy ma tuý. Trong lúc đợi H2 thì H phát hiện có lực lượng Công an đến nên H bỏ túi ma tuý xuống lề đường rồi bỏ chạy thì bị bắt giữ. Tại hiện trường Công an tạm giữ: 01 túi nilon có khoá dạng vuốt mép bên ngoài có quấn băng keo màu đen nghi bên trong có chứa chất ma tuý; 01 xe mô tô hai bánh mang biển số 84B2-044.08; 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh; 01 bật lửa màu xanh; tiền Việt Nam 40.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số: 952/KL-KTHS ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận như sau: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 05 đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma tuý; loại: Methamphetamine; tổng khối lượng: 0,5487 gam.

Theo Cáo trạng số 28/CT-VKSCT ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Trầm Minh M1Nguyễn Ngọc H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với Trương Công H2 người liên hệ với Trầm Minh M1 để mua ma tuý về sử dụng, sau đó M1 nhờ Nguyễn Ngọc H đi lấy ma tuý giao cho H2. Trên đường đi H bị bắt nên H2 chưa nhận được ma tuý nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với H2.

Đối với người thanh niên mà H liên hệ để mua ma tuý cho M1 tại khu vực thành phố T, tỉnh Trà Vinh, vào đêm 17/12/2023. Do HM1 khai không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra không mời làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe mô tô hai bánh mang biển số 84B2-044.08 mà H dùng để đi giao ma tuý. Qua điều tra được biết, chiếc xe mô tô nói trên là của anh Nguyễn Ngọc H1, ngụ ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (cha của H đứng tên chủ sở hữu), việc H mượn xe của anh H1 để đi công việc, sau đó H lấy xe làm phương tiện đi giao ma tuý cho M1 thì anh H1 hoàn toàn không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với anh H1 và ra Quyết định trả lại tài sản chiếc xe mô tô hai bánh mang biển số 84B2-044.08 cho anh Nguyễn Ngọc H1.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trầm Minh M1Nguyễn Ngọc H chưa bị cơ quan chức năng phát hiện và chưa bị xử lý, kết quả qua test nhanh M1H dương tính với chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đề nghị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trầm Minh M1Nguyễn Ngọc H về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền là 1.500.000 đồng.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đang còn tạm giữ. 01 túi nilon có khoá dạng vuốt mép bên ngoài có quấn băng keo màu đen; 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh; 01 bật lửa màu xanh; tiền Việt Nam 40.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trầm Minh M1, Nguyễn Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố; thống nhất với kết quả giám định tại kết luận giám định số 952/KL-KTHS ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T, vật chứng cơ quan điều tra kê biên quản lý là của bị cáo. Trong quá trình tiến hành tố tụng tại cơ quan điều tra các bị cáo không bị bức cung, không bị cưỡng ép, lời khai của bị cáo là tự giác, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại hần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trầm Minh M1, bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình.

  • - Các bị cáo không có tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Ngọc H có cha được tặng giấy khen thuộc trường hợp giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự.
  • Phạt Trầm Minh M1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự.
  • Phạt Nguyễn Ngọc H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon có khoá dạng vuốt mép bên ngoài có quấn băng keo màu đen nghi bên trong có chứa chất ma tuý; 01 bật lửa màu xanh.
    • - Trả cho bị cáo Trầm Minh M1 số tiền Việt Nam 40.000 đồng không sử dụng vào việc mua bán ma túy.
    • - Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trầm Minh M1, Nguyễn Ngọc H không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát, phát biểu lời nói sau cùng của các bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được Thẩm phán thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, tội danh và áp dụng pháp luật đối với bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trầm Minh M1, bị cáo Nguyễn Ngọc H đã khai hoàn toàn thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với biên bản phạm tội, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với bản tự khai, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan không sai, không khiếu nại và thừa nhận kết quả giám định, chất ma túy niêm phong giám định là của các bị cáo.

Các bị cáo là người thành niên, có đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết việc mua, bán chất ma túy là vi phạm, pháp luật cấm. Hành vi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp và xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về các chất ma túy và được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận và đề nghị của Viện kiểm sát.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trầm Minh M1, Nguyễn Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp cố ý. Ma túy là một trong những loại độc phẩm, ma túy không chỉ tạo ảnh hưởng đặc biệt xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của người sử dụng, mà còn là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình; là nguyên nhân gây lan truyền căn bệnh hiểm nghèo; sinh ra hành vi trộm cắp, cướp giật tài sản và nghiêm trọng hơn là giết người. Do đó pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo Trầm Minh M1, Nguyễn Ngọc H biết được, nhận thức được việc đó nhưng để thỏa mãn lối sống cá nhân ích kỷ, vụ lợi các bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo phải bị chế tài của pháp luật, cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc có thời hạn như quan điểm của Viện kiểm sát mới có đủ thời hạn để giáo dục bản thân các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án này, bị cáo T2 Minh M1 là người đưa tiền ra mua và bán ma túy, tiếp nhận, phân chia ma túy ra bán khi có con nghiện liên hệ mua. Bị cáo Nguyễn Ngọc H không hùn tiền cùng bị cáo Trầm Minh M1 trong việc mua bán để hưởng lợi nhuận, nhưng được bị cáo Trầm Minh M1 cho sử dụng ma túy và cho mượn tiền tiêu sài nên khi bị cáo T2 Minh Mẫn kêu giao ma túy hộ bị cáo H đã không từ chối lấy ma túy giao theo chỉ dẫn của bị cáo M1 và người mua ma túy. Do đó áp dụng hình phạt đối với bị cáo M1 cao hơn bị cáo H nhằm răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Khi bị bắt, bị cáo đã thật thà khai báo và thành khẩn nhận tội, ăn năn hối lỗi tại phiên tòa; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có cha là Nguyễn Ngọc H1 được Giám đốc Sở lao động, thương binh và xã hội tỉnh Trà Vinh tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong công tác đấu tranh phòng, chống ma túy thuộc trường hợp giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như quan điểm của Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đang còn tạm giữ: 01 túi nilon có khoá dạng vuốt mép bên ngoài có quấn băng keo màu đen, 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh, 01 bật lửa màu xanh, tiền Việt Nam 40.000 đồng. Đây là tang vật, vật chứng bị cáo H sử dụng, liên hệ mua bán trái phép chất ma túy.

  • - Đối với số tiền Việt Nam 40.000 đồng của bị cáo H không sử dụng mua ma túy và không phải từ bán ma túy mà có nên giao trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu VIVO màu xanh bị cáo dùng để liên hệ, mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước;
  • - Đối với 01 túi nilon có khoá dạng vuốt mép bên ngoài có quấn băng keo màu đen, 01 bật lửa màu xanh là chất chứng, tang vật bị cáo dùng để sử dụng cho việc mua bán chất ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Trầm Minh M1 và bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trầm Minh M1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Phạt bị cáo Trầm Minh M1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 19/12/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 19/12/2023.

Về tang vật, vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tuyên tịch thu 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu VIVO màu xanh sung ngân sách nhà nước;
  • - Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 túi nilon có khoá dạng vuốt mép bên ngoài có quấn băng keo màu đen, 01 bật lửa màu xanh.
  • - Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc H số tiền 40.000 đồng.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trầm Minh M1, bị cáo Nguyễn Ngọc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CC THADS huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger