TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02 tháng 8 năm 2024
(V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân; Ông Đặng Viết Côi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Đ, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Yên Bái.
*/ Bị đơn: Anh Lã Văn T, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã L, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
(Chị Đ có đơn xin vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khaicùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, chị Triệu Thị Đ là nguyên đơn trình bày: chị và anh Lã Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L năm 2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị thuê trọ ở nội thành Hà Nội sinh sống và làm việc, chị và anh T đều làm lao động tự do. Tuy nhiên, đến đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng, nguyên nhân là do anh T lười lao động, mải chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần rất nhiều, anh T còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con, không đỡ đần chị về mặt kinh tế cũng như nuôi dậy, chăm sóc con cái. Do mâu thuẫn căng thằng, nhận thấy anh T không thể thay đổi được, chị không thể tiếp tục chung sống với một người chồng như anh T nên chị đã bỏ đi khỏi nhà anh T từ đầu năm 2024 cho đến nay, vợ chồng chị sống ly thân từ đó, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: chị và anh T có 01 con chung: Lã Xuân T1, sinh ngày 13/6/2019. Hiện nay, cháu T1 đang ở với chị và ông bà ngoại. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Hiện chị đang làm lao động tự do tại nhà, thu nhập bình quân hàng tháng của chị khoảng 10.000.000đồng/tháng. Chị có thời gian và điều kiện để chăm sóc con.
Về tài sản chung, công nợ chung: anh chị không có, chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải hai vợ chồng chị vì chị cương quyết giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh T, chị bận công việc, nhà lại ở xa nên để tránh mất thời gian của các bên và của Tòa án, chị đề nghị Tòa không tiến hành hòa giải, cũng xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của Tòa, xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án vì chị biết anh T sẽ không đến Tòa án làm việc.
Bị đơn anh Lã Văn T: Không có ý kiến trình bày gì.
* Tại biên bản xác minh ngày 10/62024, chính quyền địa phương xã L: Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Đ, sinh năm 1998 và anh Lã Văn T, sinh năm 1998, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã L ngày 07/3/2019. Sau khi kết hôn, chị Đ và anh T đi làm xa nhà, không thường xuyên sinh sống ở địa phương nên mâu thuẫn vợ chồng cụ thể như nào chính quyền địa phương không nắm được, chỉ biết khoảng mấy tháng gần đây chị Đ và anh T sống ly thân, chị Đ có về xã xin giấy tờ làm thủ tục ly hôn. Chị Đ và anh T có 01 con chung: Lã Xuân T1, sinh ngày 13/6/2019. Nay chị Đ có đơn xin ly hôn anh T, quan điểm chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Về nơi cư trú của anh T: anh T có đăng ký thường trú tại thôn T, xã L, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, anh T đi làm xa nhà, thỉnh thoảng có về nhà nhưng chính quyền địa phương không nắm rõ anh T làm việc ở đâu, và cũng không biết cụ thể khi nào anh T về nhà.
Do đó, việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T không thực hiện được. Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh T theo quy định pháp luật để làm căn cứ tiếp tục giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, chị Đ và anh T đều vắng mặt, chị Đ có đơn trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên ý kiến như nội dung trình bày tại Tòa trước đây và không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết cho chị Đ được ly hôn với anh T; giao con chung cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh T; Chị Đ phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Triệu Thị Đ làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền, Tòa án đã triệu tập anh T đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh T không đến, chị Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Triệu Thị Đ và anh Lã Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L ngày 07/3/2019 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị Đ trình bày là do anh T lười lao động, mải chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần rất nhiều, anh T còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con, không đỡ dần chị về mặt kinh tế cũng như nuôi dậy, chăm sóc con cái, do mâu thuẫn căng thẳng, nhận thấy anh T không thể thay đổi được, chị không thể tiếp tục chung sống với một người chồng như anh T nên chị đã bỏ đi khỏi nhà anh T từ đầu năm 2024 cho đến nay, vợ chồng chị sống ly thân từ đó, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống mới. Phía anh T, trong suốt quá trình hòa giải và phiên tòa, anh T không đến Tòa để thể hiện nguyện vọng không có lý do chính đáng.
Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T với chị Đ là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của chị Đ, xử cho chị Đ được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định của Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Anh T và chị Đ có 01 con chung là Lã Xuân T1, sinh ngày 13/6/2019. Hiện nay, cháu T1 ở với chị Đ. Chị Đ có nguyện vọng sau khi ly hôn chị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Xét, từ khi hai vợ chồng chị Đ, anh T ly thân cho đến nay, con chung vẫn ở với chị Đ và ông bà ngoại; Chị Đ đang làm lao động tự do, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 10.000.000đồng/tháng, chị Đ có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; anh T không có mặt ở Tòa để trình bày nguyện vọng. Do đó, để đảm bảo sự ổn định môi trường sống, ổn định cho sự phát triển tâm, sinh lý của cháu nhỏ, HĐXX thấy nên giao con chung Lã Xuân T1 cho chị Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế; chị Đ không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi mới là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị Đ không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đ phải nộp án phí, nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Triệu Thị Đ được ly hôn anh Lã Văn T.
- Về con chung: Chị Triệu Thị Đ và anh Lã Văn T có 01 con chung là: Lã Xuân T1, sinh ngày 13/6/2019. Giao con chung Lã Xuân T1 cho chị Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác.
Sau ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dỡng, giáo dục con thì ngời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ngời đó”.
- Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị Triệu Thị Đ không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Triệu Thị Đ phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011775 ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
