TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02/5/2024. V/v: “Tranh chấp về ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan, bà Nguyễn Thị Hương.
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Chẩu Thị Ngọc -Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 382/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXX-ST ngày 27/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương Văn N, sinh năm 1957, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1954, vắng mặt
Nơi thường trú: Khu phố T, phường T, TP ., Bình Phước.
Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố T, phường T, TP ., Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2023 quá trình giải quyết nguyên đơn ông Dương Văn N trình bày:
Ông N và bà V tự nguyện tìm hiểu yêu thương và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, ngày 08/4/2011 có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước. hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà V cờ bạc, không lo vun vén gia đình, làm cho không khí gia đình luôn căng thẳng. Ông N đã nhiều lần khuyên bảo nhưng bà V không thay đổi; khoảng 04 năm trở lại đây ông N và bà V không chung sống với nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với bà V.
Về con chung: Trong quá trình chung sống không có con chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Lê Thị V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án: Cuộc sống chung của ông N, bà V có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn N, cho ông N được ly hôn với bà Lê Thị V.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Dương Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do ông Dương Văn N khởi kiện. Bị đơn bà Lê Thị V cư trú tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông N có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định của pháp luật. Bà V dù được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thành phố Đ tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[3]. Nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 37, ngày 08/4/2011. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Do vậy ông N có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà V là có căn cứ.
Xét tình trạng hôn nhân của ông N và bà V: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng đến nay ông N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà V, vì ông cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà V không chăm lo gia đình, thường xuyên cờ bạc, làm không khí gia đình luôn căng thẳng; Nay ông N thấy cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị V. Đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập lên làm việc, hòa giải nhưng bà V vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của ông N và bà V có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.
[3.2]. Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa ông N và bà V không có con chung, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3]. Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn N.
[1].Về hôn nhân: Cho ông Dương Văn N được ly hôn với bà Lê Thị V.
[2].Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3].Về chia tài sản, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4].Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005548 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài. Ông N đã nộp đủ án phí.
[5]. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[6]. Quyền kháng cáo: Ông N, bà V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hoàng Long |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
