Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 02 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phấn;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thái Việt

2. Ông Hà Ngọc Phi

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN THỊ N (Tên gọi khác: Gái đen). Giới tính: Nữ. Sinh năm: 1980, tại: Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ văn hóa: 5/12. Cha: Nguyễn Văn M, sinh năm 1954. Mẹ: Nguyễn Thị S (chết). Chồng: Tô Ngọc L, sinh năm 1976. Có 03 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1978; trú tại: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11h15' ngày 19/10/2023, Nguyễn Thị N2 một mình đi bộ từ nhà đến nhà chị Nguyễn Thị N1 tại thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, để hỏi mượn xe mô tô đi đón con gái đang học ở trường Tiểu học V. Chị N1 đồng ý nên giao xe mô tô loại Honda Vision biển số 79V1-558.69 của mình cho N2. Trên đường đi N2 có ghé đổ xăng thì phát hiện bên trong cốp xe có Giấy đăng ký xe mô tô 79V1-558.69. Khi đến đoạn đường gần quán C thuộc thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì N2 gặp hai thanh niên (không rõ lai lịch) chặn xe N2 lại và yêu cầu Nhàn trả tiền N2 vay trước đó. N2 trả lời không có tiền thì hai thanh niên này đòi lấy xe 79V1-558.69 để xiết nợ. Thì N2 năn nỉ và nói hai người này đợi N2 đi cầm cố xe lấy tiền trả nợ. Sau đó, N2 điều khiển xe 79V1-558.69 của chị N1 đi đến nhà Nguyễn Văn L1 ở Tổ dân phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa để cầm cố xe. Tại nhà L1, N2 giao xe kèm giấy đăng ký xe 79V1-558.69 cho L1. L1 hỏi Nhàn xe của ai? Thì N2 nói dối là xe của N2 mua lại của người khác nhưng chưa sang tên, rồi L1 đồng ý thế chấp xe 79V1- 558.69 với số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). N2 cầm tiền thế chấp xe, rồi bắt xe thồ quay lại trả tiền cho hai thanh niên trên số tiền 4.000.000 đồng, số tiền còn lại N2 sử dụng đi đánh bạc ở khu vực sau Bưu điện thôn X, xã V và đã thua hết. Đến khoảng 14h00 cùng ngày N2 quay lại nhà chị N1, thì chị N1 hỏi xe 79V1-558.69 đâu? Nhàn trả lời đã thế chấp và không có tiền chuộc lại. Sau đó, chị N1 trinh bảo Cơ quan Công an, tiến hành thu giữ xe 79V1-558.69 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1219/KL-TCKH.TTHS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu sơn: Đỏ - nâu, số máy: JF86E5273513, số khung: 5839LZ538159 mang biển số 79V1-558.69 trị giá: 26.400.000 đồng (hai mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).

Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô mang biển số 79V1-558.69 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn: Đỏ - nâu, số máy: JF86E5273513, số khung: 5839LZ538159, kèm theo Giấy đăng ký xe mô tô 79V1-558.69. Đã trả cho chủ sở hữu Nguyễn Thị N1.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị N1 đã nhận lại xe mô tô loại Honda Vision biển số 79V1-558.69 kèm Giấy đăng ký xe mô tô và không còn yêu cầu gì. Nguyễn Văn L1 yêu cầu Nguyễn Thị N2 bồi hoàn 7.000.000 đồng số tiền đã nhận thế chấp xe 79V1-558.69. N2 đồng ý, nhưng hiện tại chưa bồi hoàn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị N2, bị hại Nguyễn Thị N1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L1 đều có mặt và không có ý kiến gì về thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị N2 khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng số 28/CT-VKSVN, ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h30 phút ngày 19/10/2023 tại thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Thị N2 đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 xe mô tô loại Honda Vision biển số 79V1-558.69 của chị Nguyễn Thị N1 trị giá: 26.400.000 đồng (hai mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N2 đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 28/CT-VKSVN, ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thị N2 về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có cơ sở và đúng các quy định của pháp luật.

Tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định: "1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó".

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên vẫn thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, truy tố; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Văn L1 khi nhận cầm cố xe 79V1-558.69 từ Nguyễn Thị N2, L1 không biết đây là tài sản do N2 chiếm đoạt của Nguyễn Thị N1 nên hành vi trên của L1 không vi phạm pháp luật. Đối với số tiền 7.000.000 đồng Nguyễn Thị N2 có được từ việc cầm cố xe 79V1-558.69, N2 sử dụng 4.000.000 đồng để trả nợ cho 02 thanh niên (không rõ lai lịch); còn lại 3.000.000 đồng N2 sử dụng để đánh bạc ở khu vực Bưu điện thôn X, xã V và đã thua hết. Cơ quan điều tra tiếp tục phối hợp với Công an xã V để điều tra, làm rõ về hành vi đánh bạc này và xử lý trong vụ án khác.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xét. Buộc bị cáo Nguyễn Thị N2 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn L1 số tiền thế chấp xe là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Về vật chứng: Không có nên không xét;

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị N2;

Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị N2 (Tên gọi khác: Gái đen) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xét. Buộc bị cáo Nguyễn Thị N2 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn L1 số tiền thế chấp xe là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Về vật chứng: Không có nên không xét;

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N2 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị N2, bị hại Nguyễn Thị N1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị N2; Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị N2 (Tên gọi khác: Gái đen) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger