Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/5/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

Ông Nguyễn Xuân Chung

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-DS ngày 16/4/2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1988 (Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Lý Văn Đ, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 20/12/2023, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án chị Vi Thị T là nguyên đơn trình bày:

Chị với anh Lý Văn Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L ngày 02/12/2008, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu. Sau đó chị và anh Đ về chung sống với nhau. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do anh Đ chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, không hòa hợp nên không có tiếng nói chung. Chị và anh Đ thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, không cùng quan điểm sống. Vì điều kiện khó khăn, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2013 đến khoảng giữa tháng 12/2023 về hẳn Việt Nam để sinh sống. Do không còn tình cảm vợ chồng nên trong thời gian khoảng 10 năm chị đi xuất khẩu lao động thì vợ chồng không liên lạc gì, không quan tâm gì đến nhau. Đến nay vợ chồng chị chấm dứt hoàn toàn mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ.

Chị và anh Đ có 02 con chung: Cháu Lý Văn Q, sinh ngày 26/9/2009 và cháu Lý Thị T1, sinh ngày 11/6/2012. Cháu Q đang học lớp 9, cháu T1 học lớp 6, trường THCS T5 số 2. Hiện tại chị đang làm việc tại địa phương, thu nhập khoảng 8 triệu đồng/01 tháng, thỏa thuận miệng, không ký hợp đồng lao động. Hai cháu hiện đang ở với chị, để thuận tiện cho việc chăm sóc, đảm bảo việc nuôi dưỡng, phát triển của cháu Q và cháu T1, khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai cháu QT1.

Về tài sản chung, công nợ chung, cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Lý Văn Đ:

Anh Lý Văn Đ có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đã được Tòa án thông báo, tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến, quan điểm và chứng cứ cung cấp, giao nộp cho Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, anh Đ vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, anh Đ không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273, điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lý Văn Đ.

Về con chung: Giao cho chị Vi Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Lý Văn Q, sinh ngày 26/9/2009 và cháu Lý Thị T1, sinh ngày 11/6/2012.

Cấp dưỡng nuôi con chị T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Vi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Vi Thị T có đơn đề nghị giải quyết về ly hôn và con chung với anh Lý Văn Đ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn là anh Lý Văn Đ có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Vi Thị T là nguyên đơn trong vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Anh Lý Văn Đ là bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến, quan điểm và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS, hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T kết hôn với anh Lý Văn Đ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 02 tháng 12 năm 2008, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn chị T trình bày do anh Đ chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, anh chị hay xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh Đ không thường xuyên ở nhà, không quan tâm chăm lo đến gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa chị và anh Đ không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Tòa án đã tiến hành các buổi hòa giải nhưng anh Đ và chị T đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Vì vậy xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh Đ có 02 con chung Lý Văn Q, sinh ngày 26/9/2009 và cháu Lý Thị T1, sinh ngày 11/6/2012. Hiện cháu Q đang học lớp 9, cháu T1 học lớp 6, trường THCS T5 số 2. Hai con hiện đang ở với chị, để thuận tiện cho việc chăm sóc, đảm bảo việc nuôi dưỡng, phát triển của cháu Q và cháu T1, khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu QT1.

Xét thấy yêu cầu, nguyện vọng của nguyên đơn là chính đáng nên cần giao cho chị T được trực tiếp nuôi con. Chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh Đ được quyền thăm nom con chung, chị T không được cản trở anh Đ thực hiện quyền này.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.4]. Về án phí: Chị Vi Thị T là người dân tộc Nùng, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm đ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lý Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cho chị Vi Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Lý Văn Q, sinh ngày 26/9/2009 và cháu Lý Thị T1, sinh ngày 11/6/2012. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Sau khi ly hôn anh Lý Văn Đ được quyền thăm nom con chung, chị Vi Thị T không được cản trở anh Lý Văn Đ thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Vi Thị T.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Vi Thị T, anh Lý Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Tam Dị;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giáp Thị Loan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Chung

Nguyễn Tiến Chỉnh

Giáp Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ vụ T-Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger