Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Huỳnh Thị Út Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Anh Huy
Ông Danh Hoàng Duyên
Thư ký phiên tòa:Ông Võ Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2025/HNGĐST ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Anh T, sinh năm 1984
Địa chỉ: B N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Đỗ Nguyên P, sinh năm 1987
Địa chỉ: G N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ tại Úc: 21 Hillbrook Approach C, Austrilia

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 15/4/2025 bà Trương Anh T trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Năm 2008, bà Trương Anh T và ông Đỗ Nguyên P quen biết nhau, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm, có tổ chức lễ đính hôn theo phong tục tập quán tại Việt Nam, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang ngày 26/01/2010.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà T chung sống ở Việt Nam tại nhà cha mẹ ruột của ông P, thời gian đầu vợ chồng bà T chung sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2023 vợ chồng bà T cùng qua Úc sinh sống và học tập, khi qua Úc 01 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống không còn hợp nhau nên thường xuyên cải nhau, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Mặc dù hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành.

Hiện tại ông Đỗ Nguyên P sống và làm việc tại Úc, bà T sống tại Việt Nam, hai bên rất ít khi liên lạc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Nguyên P; Về con chung: Có một người con tên Đỗ Bảo A, sinh ngày 05/01/2016, hiện đang sống cùng bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Đỗ Nguyên P có ý văn bản trình bày ngày 03/4/2025: Về quan hệ hôn nhân ông Đỗ Nguyên P đồng ý ly hôn với bà T. Về con chung ông P đồng ý giao con chung tên Đỗ Bảo A, sinh ngày 05/01/2016 cho bà T nuôi dưỡng, ông P không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ thống nhất ý kiến bà T là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có ý kiến gì khác, yêu cầu giải quyết vắng mặt ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Anh T và bị đơn Đỗ Nguyên P đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa hợp lệ. Căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Bà Trương Anh T và ông Đỗ Nguyên P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11 ngày 26/01/2010. Do đó Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Anh T và ông Đỗ Nguyên P là hôn nhân hợp pháp.

Bà T và ông P đều xác định sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Việt Nam bên nhà nhà cha mẹ ông P. Đến năm 2023 vợ chồng bà T qua Úc sinh sống và học tập thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống không còn hợp nhau nên thường xuyên cải nhau, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Mặc dù hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông bà đều có ý kiến gửi đến tòa án thống nhất ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy bà Trương Anh T và ông Đỗ Nguyên P không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Anh T và ông Đỗ Nguyên P.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Đỗ Bảo A, sinh ngày 05/01/2016, hiện đang sống cùng bà T. Ông P đồng ý giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, ông P không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T đồng ý tiếp tục chăm sóc con chung và cháu Đỗ Bảo A cũng có ý kiến muốn sống cùng với mẹ nên giao con chung cho bà T chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Anh T và bà Đỗ Nguyên P đều xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trương Anh T phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Anh T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Anh T được ly hôn với ông Đỗ Nguyên P.
  2. Về con chung: Giao người con tên Đỗ Bảo A, sinh ngày 05/01/2016 cho bà Trương Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đỗ Nguyên P không cấp dưỡng nuôi con chung.

    Ông Đỗ Nguyên P có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Trương Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai 14 ngày 10/4/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Trương Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Riêng ông Đỗ Nguyên P có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:

THẨM

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND phường Vĩnh Thanh Vân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Út Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Thái Thị Bích Tr BĐ: WU, CHUNG, Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger