Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13 – 3 – 2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Phan Minh Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 326/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thảo N, sinh năm 1995;

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm 1995;

Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Ngô Thảo N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Võ Minh T tự nguyện chung sống với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn ngày 19/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, anh T không lo làm ăn, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc và đã ly thân nhau từ tháng 7 năm 2023. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh T có 01 người con tên Võ Minh T1 sinh ngày 02/02/2018, hiện cháu T1 do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1; vấn đề cấp dưỡng cho con không đặt ra.

Về tài sản chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị N xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Võ Minh T, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng anh T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Võ Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T.

[2] Về hôn nhân: Chị N với anh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2017. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thì mối quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thảo N với anh Võ Minh T được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị N xác định trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, anh T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc và đã ly thân nhau. Tại phiên tòa chị N xác định không còn tình cảm với anh T và cũng không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh T; đối với anh Võ Minh T, đã biết được nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị N nhưng anh T cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, điều này cho thấy anh T đã không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này nữa. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị N với anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Thà L phù hợp.

[3] Về con chung: Chị N xác định trong thời gian chung sống chị N và anh T có 01 người con tên Võ Minh T1 sinh ngày 02/02/2018, hiện cháu T1 do chị N đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1; đối với anh T không có ý kiến gì về con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh T và chị N ly thân cho đến nay cháu T1 do chị N nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu T1 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ; đối với việc cấp dưỡng cho con chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh T không có ý kiến gì về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh T không có ý kiến gì về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Thảo N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thảo N. Cho chị Ngô Thảo N được ly hôn với anh Võ Minh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Võ Minh T1 sinh ngày 02/02/2018 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; việc cấp dưỡng cho không đặt ra. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Ngô Thảo N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0016619 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - CCTHADS huyện Thới Bình;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã T, huyện T;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tiêu Hồng Phượng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Minh Sang
Hồ Lệ Hoa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thảo Ng xin ly hôn Võ Minh Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger