Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 31/2025/HSST

Ngày: 25 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Quang Liêm;
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 30/2025 /HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thanh H; sinh năm 1988, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: 65 đường S, phường T, quận T, TP .; chỗ ở hiện nay: A C, phường T, quận T, TP Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 và bà Huỳnh Thị Ngọc Á, sinh năm 1959; vợ, con: chưa.

Nhân thân: Ngày 14/4/2023, bị Ủy ban nhân dân phường T, quận T ra Quyết định số 35/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 12/9/2024, Ủy ban nhân dân phường T, quận T ra Quyết định số 974/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 29/5/2015 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, theo bản án số 85/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2017, đã xóa án tích, đã đóng án phí; Ngày 26/9/2024 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo bản án số 204/2024/HSST.

Tiền án: Ngày 02/02/2021 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án số 25/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2022, chưa đóng án phí.

Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 17/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.

  1. Phạm Ngọc L; sinh năm 1995, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: E T, phường E, quận P, TP .; chỗ ở hiện nay: phòng 05 nhà số I Kênh A, phường S, quận T, TP Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (chết) và bà Võ Thị Ngọc H1, sinh năm 1964; vợ, con: chưa.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 17/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Nam T, sinh năm: 1976; trú tại: 4.05 KNOQĐ D P, Phường G, quận G, TP . (Vắng mặt).
  2. Anh Lê Đức T1, sinh năm 1973; trú tại: 9.12 K Chung cư H, tổ B, ấp C, xã A, huyện B, TP . (Vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Văn Duy K, sinh năm 1991; trú tại: A P, Phường E, Quận H, TP . (Vắng mặt).
  4. Chị Hồ Đỗ Thiện C1, sinh năm 1971; trú tại: A Kênh A, phường S, quận T, TP . (Vắng mặt).
  5. Anh Hồ Đỗ Thế P, sinh năm 1975; trú tại: A Kênh A, phường S, quận T, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 17/6/2024, Nguyễn Thanh H đang ở tại trước số F L, phường B, quận B, gọi điện thoại cho Phạm Ngọc L hỏi có nhà không thì L nói đang ở nhà. Sau đó, H gọi điện thoại cho H2 Đỗ Thế P nói qua chở H và Đỗ Thị Hải D qua chỗ trọ của L chơi. Sau đó, P điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 59V2-998.11 đến đón H và D rồi chở đến phòng trọ số E, nhà địa chỉ số I Kênh A, phường S, quận T.

Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, Phan quay lại phòng trọ của L thì H mượn xe máy trên và nói “chạy ra ngoài chút việc”, P đồng ý. Trên đường đi, H liên hệ với H3 (chưa rõ lai lịch) qua Z “Nguyễn H3” để hỏi mua “bịch 2” tức là 200.000 đồng ma túy đá thì H3 hẹn gặp bên cạnh nhà địa chỉ số A Hồ V, phường B, quận B. Sau đó, khi đến điểm hẹn thì H3 đưa H 01 gói thuốc Jet và nói “thôi còn ít giữ chơi luôn đi, khỏi trả tiền”. Khi tới trước số H L, phường B, quận B, H mở gói thuốc Jet ra thấy bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy đá nên lấy gói ma túy bỏ vào túi quần, vứt bỏ vỏ gói thuốc Jet rồi về lại phòng trọ của L.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, trong phòng trọ số E, nhà địa chỉ số I Kênh A, phường S, quận T, gồm có L, D, P và H, H đưa gói ma túy cho L. Sau đó, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của L gồm 01 chai nhựa chứa chất lỏng, nắp chai có gắn 01 ống hút nhựa, 01 ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ) và 01 bật lửa ở dưới chân tủ gỗ dưới gầm cầu thang rồi đổ gói ma túy trên vào đầu tròn ống thủy tinh và dùng bật lửa hơ nấu ma túy. Sau đó, L đưa bộ sử dụng có ma túy cho H hút đầu tiên rồi đưa cho P nhưng P không sử dụng nên H chuyền bộ sử dụng có ma túy cho D sử dụng và L là người cuối cùng sử dụng số ma túy trong nỏ. T2 ngồi chơi tại phòng cho đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an quận T đến kiểm tra và đưa tất cả về trụ sở Công an phường S làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Thanh H và Phạm Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Kết luận giám định số 7384/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:

“ - Gói 1:

  • + Chất lỏng được kí hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có thể tích 3ml (ba mililit), không tìm thấy ma túy.
  • + Chất màu nâu được kí hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết.

- Gói 2: Bột được kí hiệu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết.” (Bút lục 62)

Vật chứng thu giữ:

  • - Gói 1, gói 2 niêm phong sau giám định số (2279/24) có chữ ký của giám định viên Trần Đình H4; Điều tra viên Lê Hoàng P1;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A số Imei 1: 865005058527337; số Imei 2: 865005058527345, là điện thoại H sử dụng để liên lạc mua ma túy;
  • - 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng, là số tiền H sử dụng để mua ma túy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu đen, số I : 353404043024261;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi 5 màu vàng, số Imei 1: 868373035524661; số Imei 2: 868373035524679
  • Là các điện thoại L sử dụng để liên lạc cá nhân.
  • - 01 bật lửa, L dùng để sử dụng ma túy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A02S màu đen, số Imei 1: 356525682718750/01; số Imei 2: 359001162718758/01, là điện thoại Phan sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho P và P không có yêu cầu gì khác.
  • - 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đen, biển số: 59V2-998.11, số khung: 3906HY744429; số máy: JA39E0724567, là xe gắn máy H sử dụng để mua ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKSQ.TP ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Thành L1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 08 năm đến 09 năm tù.
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Các Bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Ngọc L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ ngày 17/6/2024, tại phòng trọ số E, nhà địa chỉ số I Kênh A, phường S, quận T, Nguyễn Thanh H và Phạm Ngọc L đã có hành vi tổ chức cho Đỗ Thị Hải D cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Thành L1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự phân công và câu kết chặt chẽ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của các bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:

  • [3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Thanh H: là người có nhân thân xấu. Vai trò tham gia của bị cáo trong vụ án rất tích cực, chính bị cáo là người rủ rê đồng bọn sử dụng ma túy, cung cấp ma túy cho đồng bọn sử dụng.
  • [3.2] Đối với bị cáo Phạm Ngọc L: là người cung cấp địa điểm, cung cấp công cụ, dụng cụ (chai nhựa, ống hút, ống thủy tinh, bật lửa) cho đồng bọn sử dụng ma túy.

[4] Tình tiết tăng nặng: đối với bị cáo Nguyễn Thanh H tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Đối với Đỗ Thị Hải D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Hồ Đỗ Thế P tuy không sử dụng trái phép chất ma túy cùng với H và L nhưng do dương tính với ma túy do sử dụng trái phép chất ma túy trước đó, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Đối với đối tượng H3 (không rõ lai lịch) bán ma túy cho H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[7] Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt 02 năm tù của Bản án số: 204/2024/HSST ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP . với hình phạt của Bản án này. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với Gói 1, gói 2 niêm phong sau giám định số (2279/24) có chữ ký của giám định viên Trần Đình H4; Điều tra viên Lê Hoàng P1. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A số Imei 1: 865005058527337; số Imei 2: 865005058527345, là điện thoại H sử dụng để liên lạc mua ma túy. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng, là số tiền H sử dụng để mua ma túy. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu đen, số Imei : 353404043024261; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 5 màu vàng, số Imei 1: 868373035524661; số Imei 2: 868373035524679. Là các điện thoại L sử dụng để liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo L.
  • - Đối với 01 bật lửa, L dùng để sử dụng ma túy. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S màu đen, số Imei 1: 356525682718750/01; số Imei 2: 359001162718758/01, là điện thoại Phan sử dụng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho P là phù hợp.
  • - Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đen, biển số: 59V2-998.11, số khung: 3906HY744429; số máy: JA39E0724567, là xe gắn máy H sử dụng để mua ma túy

Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Trần Nam T, cư trú tại: 4.05 KNOQĐ D P, Phường G, quận G đứng tên chủ sở hữu (Bút lục 104). Ngày 29/5/2023, anh T và chị Tạ Thị T3 (vợ của anh T) đến Văn phòng C2, số B Q, Phường A, quận G công chứng Hợp đồng ủy quyền số 006235 ngày 29/05/2023 việc bán chiếc xe trên cho anh Lê Đức T1 (cư trú tại: 9.12 khối HQ1 chung cư H, tổ B, ấp C, xã A, huyện B). Ngày 13/6/2023 anh T1 đến Văn phòng C3 P, xã B, huyện B công chứng hợp đồng ủy quyền (ủy quyền lại) số 001782 ngày 13/06/2023 về việc bán lại xe cho anh Nguyễn Văn Duy K, cư trú tại: A P, Phường E, Quận H. Vào tháng 5/2024, anh K bán xe cho chị Hồ Đỗ Thiện C1, cư trú tại: A Kênh A, phường S, quận T sử dụng. Đến ngày 07/01/2025, chị C1 và anh K đến Văn phòng C4 số 40 N, phường X (Phường A cũ), Quận H, công chứng Hợp đồng mua bán xe số 00000154 về việc anh K bán xe gắn máy trên cho chị C1. Qua làm việc với chị C1 được biết ngày 17/6/2024, Hồ Đỗ Thế P (em ruột của chị C1) mượn xe gắn máy trên để đi công việc. Việc P cho H mượn xe gắn máy trên để đi mua ma túy thì chị C1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho chị C1 và chị C1 không có yêu cầu gì khác là phù hợp (Bút lục 117).

[9] Án phí: Các Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Ngọc L phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (Chín) năm tù.

[3] Áp dụng: Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt: 02 (H5) năm tù của Bản án số: 204/2024/HSST ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP . với hình phạt 09 (Chín) năm tù của Bản án này. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là: 11 (Mười một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 17/06/2024.

[4] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4.1] Xử phạt: bị cáo Phạm Ngọc L 08 (T4) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 17/06/2024.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy: Gói 1, gói 2 niêm phong sau giám định số (2279/24) có chữ ký của giám định viên Trần Đình H4; Điều tra viên Lê Hoàng P1; 01 bật lửa, L dùng để sử dụng ma túy.
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc L: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu đen, số Imei : 353404043024261; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 5 màu vàng, số Imei 1: 868373035524661; số Imei 2: 868373035524679.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A số Imei 1: 865005058527337; số Imei 2: 865005058527345; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng.

Các vật chứng còn lại hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 56/PNK ngày 07/01/2025 của của Công an quận T (Bút lục 65).

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Ngọc L. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Ngọc L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger