|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ Bản án số: 31/2025/HSST Ngày 24 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Hoàng Nam
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thái – Giáo viên
2. Ông Nguyễn Anh Đức
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đoàn Thị Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân Huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tô Xuân Tùng – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 24.3.2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/HSST ngày 26.02.2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXX-HSST ngày 07.3.2025 đối với các bị cáo:
1. Bùi An Đ; Sinh ngày 20/9/2005; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: số C, ngõ F Y, Xóm L, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 11/12; Con ông: Bùi Anh H; Con bà: Triệu Hồng Hạnh; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. D chỉ bản số 670 ngày 29.11.2024 do công an huyện T cung cấp.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Trước đây có 01 tiền án: Ngày 26/8/2022, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích).
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
2. Vũ Diệp Chiến Thuật; Sinh ngày 22/10/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã M, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: số B khu dân cư Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 12/12; Con ông: Vũ Hồng T; Con bà: Nguyễn Thị T1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Chưa có. D chỉ bản số 669 ngày 29/11/2024 do công an huyện T cung cấp. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2024 đến ngày 29/11/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà).
3. Hoàng Tiến P; Sinh ngày 14/10/2007; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội;; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 11/12; Con ông: Hoàng Tiến H1; Con bà: Lê Hồng T2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Chưa có. D chỉ bản số 675 ngày 29/11/2024 do công an huyện T cung cấp. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến ngày 29/11/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà).
Người đại diện hợp pháp của Hoàng Tiến P: Ông Hoàng Tiến H1 và bà Lê Hồng T2 (bố mẹ của P). ( Bà T2 có mặt tại phiên toà).
4. Cao Trần K; Sinh ngày 04/10/2008; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: số B, ngách D N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: số B C, Chung cư B, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 10/12; Con ông: Cao Quang L; Con bà: Nguyễn Thị Liên H2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Chưa có. D chỉ bản số 674 ngày 29/11/2024 do công an huyện T cung cấp. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến ngày 29/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà).
Người đại diện hợp pháp của Cao Trần K: Ông Cao Quang L và bà Nguyễn Thị Liên H2 (bố mẹ của K). (Ông L và bà H2 có mặt tại phiên toà).
5. Dương Thanh T3; Sinh ngày 04/11/2008; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 08/12; Con ông: Dương Anh T4 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H3; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Chưa có. D chỉ bản số 673 ngày 29/11/2024 do công an huyện T cung cấp. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
Người đại diện hợp pháp của Dương Thanh T3: Bà Nguyễn Thị H3 (mẹ của T3). (Bà H3 có mặt tại phiên toà).
6. Phan Văn Việt H4; Sinh ngày 22/10/2007; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: số B Đ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 11/12; Con ông: Phạn Ngọc T5; Con bà: Phạm Thị Kim D1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Chưa có. D chỉ bản số 672 ngày 29/11/2024 do công an huyện T cung cấp. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến ngày 20/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà).
Người đại diện hợp pháp của Phan Văn Việt H4: Ông Phan Ngọc T6 và bà Phạm Thị Kim D1 (bố mẹ của H4). (Bà D1 có mặt tại phiên toà).
* Người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên Phan Văn Việt H4, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3 là: Bà Dương Thị H5 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/11/2024, Phan Văn Việt H4, Vũ Diệp C, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Nguyễn Anh H6, Vũ Vương H7, Lê Đức T7, Vũ Quang Đ1, Nguyễn Quốc Đ2, Phạm Tuấn D2, Ngô Duy B, Ngọc D3 (hiện chưa xác định được nhân thân) cùng nhau góp tiền đưa cho K, Anh H7 đi mua 07 dao nhọn và 07 tuýp sắt. Đến ngày 14/11/2024, Hoàng Tiến P bảo Đỗ Đình H8 (sinh ngày: 21/11/1997; Nơi cư trú: Xóm C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) gọi điện thoại cho Nguyễn Tiến H9 (sinh ngày: 24/7/1995; Nơi cư trú: Số I ngõ H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) để nhờ H9 cho mượn địa điểm, dụng cụ cho nhóm của Phong hàn dao phóng lợn vào tuýp sắt và được H9 đồng ý. Sau đó, P rủ bạn là Vũ Quang Đ1 (sinh ngày: 01/6/2009; Nơi cư trú: Số A T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội), đến nhà trọ của H9. Lúc này, Đ1, P tự hàn dao vào tuýp sắt còn H9, H8 đi làm. Sau khi hàn xong được 07 chiếc tuýp gắn dao, mỗi chiếc dài khoảng 02 mét, 01 tuýt hàn dao dài khoảng 01 mét, 01 kiếm dài khoảng 01 mét xong thì P cất giấu tại phòng trọ của H9 rồi đi về. Đến khoảng 00 giờ ngày 17/11/2024, Phan Văn Việt H4, Vũ Diệp C, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Bùi An Đ, Vũ Quang Đ1, Vũ Vương H7 (sinh ngày: 26/3/2009; Nơi cư trú: Căn hộ A, tòa L, phường N, quận T, thành phố Hà Nội), Nguyễn Quốc Đ2 (sinh ngày: 16/10/2009; Nơi cư trú: số A ngách D đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội), Phạm Tuấn D2 (sinh ngày: 11/5/2010 Nơi cư trú: Số B, Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội), Lê Đức T7 (sinh ngày: 24/8/2010 Nơi cư trú: Ngõ D đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội), Nguyễn Anh H6 (sinh ngày: 11/10/2009; Nơi cư trú: Số A, Xóm C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) rủ nhau đi chơi tại khu vực Đ thuộc địa bàn xã T, T, Hà Nội. Lúc này, Cao Trần K nhận được điện thoại của Phạm Hùng Anh Đ3 (sinh ngày: 18/04/2009; Nơi cư trú: P, HH3C, khu đô thị L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội) rủ đi đánh nhau với một nhóm khác có mâu thuẫn với Đ3 nên K thông báo cho tất cả mọi người và mọi người đồng ý đi đánh nhau. Lúc này, K bảo mọi người đợi còn K rủ T3, Anh H6, P đi lấy hung khí tại phòng trọ của H9 ở số I Ngõ H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tại đây, do H9 không có ở nhà nên T3 tự mở cửa vào lấy 07 tuýp sắt hàn dao dài khoảng 2 mét mà nhóm Phong hàn hôm trước để mang đi đánh nhau. Khi lấy được đồ thì cả nhóm quay lại khu vực Đ. Tại đây nhóm của P gặp Đ3 đi cùng 09 nam thanh niên khác là bạn của Đ3 đi trên 05 xe máy cầm theo 01 dao dạng kiếm và 04 tuýp sắt hàn dao. Lúc này, P điều khiển xe máy BKS 29G2-13545 chở K cầm tuýp hàn dao, Vương H7 điểu khiển xe máy Vision BKS 29AX-06665 chở Đ2 cầm tuýp dao, T điểu khiển xe máy BKS 29AX-07665 đèo Anh H7 cầm tuýp hàn dao, Ngô Duy B (sinh ngày: 14/12/2008; Nơi cư trú: số B khu tập thể H, phường T, quận T, thành phố Hà Nội) điểu khiển xe máy BKS 29G2-16174 chở T7 cầm 01 tuýp hàn dao, D2 điều khiển xe máy Vision BKS 29F1-60703 chở Ngọc D3 (chưa rõ nhân thân) cầm 01 tuýp hàn dao, Quang Đ1 điểu khiển xe máy BKS 29H2-15073 chở Đ2 cầm 01 tuýp hàn dao, T9 điều khiển xe máy BKS 29BE-05815 chở H4 cầm 01 tuýp hàn dao, cùng Đ3 và 09 nam thanh niên bạn của Đ3 điều khiển trên 05 xe máy mang theo 01 kiếm, 04 tuýp hàn dao đi dọc các tuyến đường T, N, L, Nguyễn T8, T, G, đường G thuộc địa phận huyện T, quận H, quận T, quận H, quận H, thành phố Hà Nội. Trước khi đi, Đ3 mở cốp xe lấy cờ lê và bảo tất cả mọi người tháo biển kiểm soát xe máy ra. Sau khi tháo xong biển kiểm soát, Đ3 nói “đến giờ rồi, di chuyển thôi” thì mọi người cùng đi đánh nhau. Trên đường đi các đối tượng phóng tốc độ cao, lạng lách, đánh võng với tốc độ 70km/h-80km/h vê ga, hò hét và lê các tuýp hàn dao, kiếm xuống đường và tìm các nam thanh niên khác để đánh, khi nhóm đối tượng điều khiển xe đến khu vực đường N thì bị một nhóm thanh niên khác dùng vỏ chai bia thủy tinh ném sau đó bỏ chạy. Các đối tượng phóng nhanh đuổi theo hướng đường N đi H nhưng không đuổi được. Khi nhóm của P tiếp tục di chuyển đến đoạn đường gần bệnh viện A thì gặp một nhóm nam thanh niên đi ngược chiều có cầm dao kiếm, nghi là nhóm ném chai bia vào nhóm mình nên đã hò hét xông vào đuổi chém nhau (hiện chưa xác định được có ai bị thương hay không). Sau đó, nhóm của P quay về khu vực Đầm Tròn thuộc địa phận xã T, huyện T, thành phố Hà Nội vứt 01 tuýp hàn dao bị hỏng đi, đưa trả cho Anh H7 và K số hung khí còn lại. Lúc này, K, Anh H6, T3, P mang số tuýp sắt hàn dao về phòng trọ tại địa chỉ tại số I Ngõ H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để cất rồi tất cả đi về nhà.
Do hành vi của các đối tượng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn nên ngày 26/11/2024, UBND xã T có công văn số 502 đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T xử lý các đối tượng trên về hành vi gây rối trật tự công cộng. Hành vi của các đối tượng đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn nhiều quận huyện của thành phố Hà Nội.
Ngày 20/11/2024, Đỗ Đình H8, Nguyễn Tiến H9 đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T tự nguyện giao nộp 06 tuýp sắt hàn dao mỗi chiếc dài 02 mét, 01 dao dạng kiếm, 01 tuýt hàn dao dài 01 mét do nhóm của P cất giấu tại nhà trọ của H9.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Phan Văn Việt H4, Vũ Diệp C, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Bùi An Đ và các đối tượng dưới 16 tuổi gồm: Vũ Vương H7, Phạm Tuấn D2, Lê Đức T7, Vũ Quang Đ1, Vũ Anh H10, Ngô Duy B, Nguyễn Quốc Đ2 khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Hoàng Tiến P đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc máy hàn nhãn hiệu JASIC, Cao Trần K tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 11.
Đối với hành vi của Đỗ Đình H8, Nguyễn Tiến H9 quá trình điều tra xác định các đối tượng không tham gia vào vụ việc gây rối, không biết các đối tượng đi gây rối nhưng có hành vi giúp sức cho các đối tượng sản xuất hung khí nên ngày 18/02/2025, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính đối với H8 và H9 về hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí vật liệu nổ, tiền chất nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/ND-CP của Chính Phủ. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Vũ Vương H7, Phạm Tuấn D2, Lê Đức T7, Vũ Quang Đ1, Vũ Anh H10, Ngô Duy B, Nguyễn Quốc Đ2, Phạm Hùng Anh Đ3, quá trình điều tra xác định thời điểm các đối tượng này tham gia gây rối trật tự công cộng đều có độ tuổi dưới 16 tuổi nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 18/02/2025, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/ND-CP của Chính Phủ. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Ngọc D3 và 09 đối tượng khác trong nhóm của Đ3, quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân tên tuổi, nên ngày 18/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến hành vi của các đối tượng để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với những chiếc xe máy các đối tượng sử dụng ngày 17/11/2024, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bố mẹ các đối tượng, các đối tượng tự ý lấy sử dụng mà không có sự đồng ý của bố mẹ nên Cảnh sát điều tra–Công an huyện T đã trả lại những chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản không ai còn có yêu cầu đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS-TT ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, các bị cáo Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Bùi An Đ, Vũ Diệp C, Phan Văn Việt H4 bị truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo khai nhận hành vi vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa và người đại diện hợp pháp của các bị cáo chưa thành niên thống nhất trình bày: Các bị cáo đều là người chưa thành niên, đây là lần phạm tội đầu tiên nên kính đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo với mức án thấp nhất để các bị cáo có thể tiếp tục học tạp và có điều kiện trở thành người công dân tốt; các gia đình cam kết sẽ bảo ban, quan tâm, giáo dục các cháu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt Hoàng Tiến P, Cao Trần K mức án từ 18 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng; xử phạt Dương Thanh T3, Phan Văn Việt H4 mức án từ 16 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 đến 36 tháng;
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi An Đ mức án từ 24 đến 26 tháng tù; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Diệp Chiến T9 mức án từ 24 đến 26 tháng tù.
Tịch thu tiêu huỷ các tuýp sắt hàn dao, dao dạng kiếm, tuýp thu giữ của các bị cáo; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 máy hàn điện thu giữ của P, 01 điện thoại di động thu giữ của K do liên quan đến hành vi phạm tội. Ngoài ra các bị cáo còn phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ ngày 17/11/2024, trên các tuyến đường T, N, L, N (quận T, H, H, thành phố Hà Nội), nhóm đối tượng gồm Phan Văn Việt H4, Vũ Diệp C, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Bùi An Đ và các đối tượng dưới 16 tuổi gồm: Vũ Vương H7, Phạm Tuấn D2, Lê Đức T7, Vũ Quang Đ1, Vũ Anh H10, Phạm Hùng Anh Đ3, Ngô Duy B, Nguyễn Quốc Đ2 cùng một số đối tượng khác chưa xác minh được nhân thân lai lịch có hành vi điều khiển xe máu mang theo hung khí gồm tuýp sát hàn dao, kiếm để đi đánh nhau với nhóm khác. Trên đường đi, nhóm đối tượng điều khiển xe máy lạng lách đánh võng, điều khiển xe tốc độ cao, hò hét và đánh nhau với một nhóm thanh niên khác tại khu vực gần bệnh viện 103 thuộc địa phận quận H, thành phố Hà Nội. Hành vi của các đối tượng ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, gây hoang mang lo lăng cho nhân dân trên nhiều địa bàn quận huyện của thành phố Hà Nội.
[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng và cản trở hoạt động bình thường của nhân dân trên nhiều địa bàn quận huyện thuộc thành phố Hà Nội. Hậu quả nghiêm trọng ở đây là gây náo động, làm mất trật tự, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự trị an, đe dọa sự an toàn công cộng trên địa bàn khu dân cư, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân. Các bị cáo sử dụng kiếm, dao để đuổi đánh nhau nên thuộc trường hợp dùng hung khí. Thời điểm phạm tội, các đối tượng Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Bùi An Đ, Vũ Diệp C, Phan Văn V H4 trên 16 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; các đối tượng Vũ Vương H7, Phạm Tuấn D2, Lê Đức T7, Vũ Quang Đ1, Vũ Anh H10, Phạm Hùng Anh Đ3, Ngô Duy B, Nguyễn Quốc Đ2 dưới 16 tuổi, chưa phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội Gây rối trật tự công cộng.
Những hành vi nêu trên của các bị cáo Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Bùi An Đ, Vũ Diệp C, Phan Văn Việt H4 đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử xem các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy:
* Về nhân thân của các bị cáo:
Nhân thân của Bùi An Đ: Bị cáo trước đây có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản. Tuy đã được xóa án tích nhưng việc tiếp tục phạm tội lần này thể hiện sự coi thường kỉ cương, pháp luật của bị cáo, do vậy cần xem xét khi xác định mức hình phạt.
Đối với 05 bị cáo còn lại gồm: Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Vũ Diệp C, Phan Văn Việt H4. Xét nhân thân của cả 05 bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu các bị cáo bị đưa ra truy tố, xét xử.
* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Bùi An Đ, Cao Trần K, Dương Văn T10 đều có ông nội là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng Huân chương, kỉ niệm chương nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Phan Văn V H4 đều dưới 18 tuổi, đều chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu tiên các bị cáo bị đưa ra truy tố, xét xử, bản thân các bị cáo hiện vẫn đang đi học tại các trường phổ thông nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5]. Xét vai trò của các bị cáo trong việc thực hiện tội phạm:
Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng ngày 17/11/2024: Các bị cáo trong vụ án đều cùng có hành vi có hành vi điều khiển xe máy mang theo hung khí gồm tuýp sát hàn dao, điều khiển xe máy với tốc độ cao, lạng lách đánh võng, hò hét dánh nhau với các nhóm thanh niên khác.
Hành vi phạm tội của các bị cáo ngày 17/11/2024 là tương tự nhau. Tuy nhiên Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Các bị cáo Vũ Diệp Chiến T9, Cao Trần K, Dương Văn T10, Phan Văn Việt H4 cùng góp tiền để mua các dụng cụ để chế tạo hung khí; Cao Trần K là người đi mua các dụng cụ còn Hoàng Tiến P là người trực tiếp gia công, chế tạo, hàn các dao gắn tuýp cho cả nhóm. Ngày xảy ra sự việc gây rối, P, K, T10 là người đi lấy hung khí và cất giấu hung khi sau đó gây rối trật tự công cộng.
Phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo; nhân thân các bị cáo đã thành niên và các bị cáo chưa thành niên; động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện phạm tội: Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án theo thứ tự như sau: Bùi An Đ, Vũ Diệp C, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Văn T10, Phan Văn Việt H4.
* Về quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
Bị cáo Bùi An Đ và bị cáo Vũ Diệp Chiến T9: Các bị cáo đều đã thành niên, trên 18 tuổi tại thời điểm phạm tội, nhận thức đã đầy đủ. Bản thân bị cáo Đ trước đây cũng có 01 tiền án. Với tình hình các vụ án gây rối trật tự có tính chất tương tự thường xuyên xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây thì thấy rằng cần cách ly các bị cáo này ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, qua đó góp phần làm giảm số lượng các vụ án gây rối đang gây bức xức dư luận trên địa bàn thành phố.
Đối với các bị cáo Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Văn T10, Phan Văn Việt H4: Xét thấy 04 bị cáo bị cáo trong vụ án đều dưới 18 tuổi nên cần xem xét nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, các quy định tại Chương VI Luật tư pháp người chưa thành niên. Bản thân các bị cáo cũng đã trải qua quá trình bị tạm giam, tạm giữ nên cũng đã có tác dụng răn đe, cải tạo. Xét nhân thân, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã nêu ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải bắt các bị cáo Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Phan Văn Việt H4 chấp hành hình phạt tù, các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nhưng các bị cáo cũng phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời gian thử thách, để qua đó giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 06 tuýp sắt hàn dao mỗi chiếc dài 02 mét, 01 dao dạng kiếm, 01 tuýt hàn dao dài 01 mét: đây là các tang vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc máy hàn điện thu giữ của P: đây là dụng cụ các bị cáo dùng để hàn hung khí, 01 chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của K là thiết bị K liên hệ với Phạm Hùng Anh Đ3 để nhận lời đi đánh nhau, thấy rằng đây là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[7]. Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi của Đỗ Đình H8, Nguyễn Tiến H9 quá trình điều tra xác định các đối tượng không tham gia vào vụ việc gây rối, không biết các đối tượng đi gây rối nhưng có hành vi giúp sức cho các đối tượng sản xuất hung khí nên ngày 18/02/2025, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính đối với H8 và H9 về hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí vật liệu nổ, tiền chất nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/ND-CP của Chính Phủ. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Vũ Vương H7, Phạm Tuấn D2, Lê Đức T7, Vũ Quang Đ1, Vũ Anh H10, Ngô Duy B, Nguyễn Quốc Đ2, Phạm Hùng Anh Đ3, quá trình điều tra xác định thời điểm các đối tượng này tham gia gây rối trật tự công cộng đều có độ tuổi dưới 16 tuổi nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 18/02/2025, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/ND-CP của Chính Phủ. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Ngọc D3 và 09 đối tượng khác trong nhóm của Đ3, quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân tên tuổi, nên ngày 18/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến hành vi của các đối tượng để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với những chiếc xe máy các đối tượng sử dụng ngày 17/11/2024, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bố mẹ các đối tượng, các đối tượng tự ý lấy sử dụng mà không có sự đồng ý của bố mẹ nên Cảnh sát điều tra–Công an huyện T đã trả lại những chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản không ai còn có yêu cầu đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Bùi An Đ, Vũ Diệp C, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Phan Văn Việt H4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:
Xử phạt: Bùi An Đ 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:
Xử phạt: Vũ Diệp Chiến Thuật 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2024 đến ngày 29/11/2024.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, khoản 1 Điều 91, Điều 101; Bộ luật hình sự; Chương VI Luật tư pháp người chưa thành niên; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt: Hoàng Tiến P 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Cao Trần K 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Dương Thanh T3 17 (Mười bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 34 (ba mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Phan Văn Việt H4 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Dương Thanh T3.
Giao các bị cáo Hoàng Tiến P, Dương Thanh T3 về UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Cao Trần K về UBND phường N, quận T, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phan Văn Việt H4 về UBND phường V, quận H, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 06 (sáu) tuýp sắt hàn dao mỗi chiếc dài 02 mét, 01 (một) dao dạng kiếm dài 1m, 01 (một) tuýt hàn dao dài 1 mét;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc máy hàn điện màu cam nhãn hiệu JASIC; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số Imei: 351037750191683, Imei 2: 351037750933720 đã qua sử dụng;
Tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Buộc các bị cáo Bùi An Đ, Vũ Diệp C, Hoàng Tiến P, Cao Trần K, Dương Thanh T3, Phan Văn Việt H4 mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Hoàng Nam |
14
Bản án số 31/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 31/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi An Đạt và đồng phạm
