|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HSST Ngày: 21-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt ;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện;
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
-Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh C - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21 /2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1.Nguyễn Thị H; tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 31/5/1973, tại huyện Q, Thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: Số F đường V, phường P, Quận B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; số thẻ CCCD: [...];Con ông: Nguyễn Đình Đ và bà Hoàng Thị T (đã chết); Chồng: Nguyễn Mạnh C1 ( Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1992; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- - Ngày 28/7/2008 bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 08/4/2012. (chưa được xóa án tích)
- - Ngày 09/4/2013 bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. (chưa được xóa án tích)
- - Ngày 21/9/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 27/10/2022. (chưa được xóa án tích)
Nhân thân:
- - Ngày 05/02/1994 bị Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”.
- + Ngày 06/4/1998 bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”.
Bị caó bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024. Tạm giam ngày 22/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Hoàng Thị H1, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/3/1970, tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Số I T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: P nhà D chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12;Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; số thẻ CCCD: [...]. Con ông: Hoàng Thanh N, (đã chết); và bà: Nguyễn Thị K, (đã chết); gia đình có 05 anh chị em, bị can là con thứ tư; Chồng: Vũ Minh H2 ( Đã ly hôn) Có 02 con, con thứ nhất sinh năm 1994, con thứ hai sinh năm 2008; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- - Ngày 17/8/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 20/12/2022. (chưa được xóa án tích)
Nhân thân:
- + Ngày 21/6/2004 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Ngày 26/5/2008 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Ngày 16/01/2009 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 5 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với bản án năm 2008 Hoàng Thị H1 phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 06 tháng tù.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/8/2024. Tạm giam ngày: 22/8/2024.Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.Bị cáo có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Xuân T1, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/5/1969, tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Số H- 1 H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số H- 10 /38 H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:Kinh; tôn giáo: Không;Giới tính: nam; số thẻ CCCD: [...].Con ông: Nguyễn Xuân T2, (đã chết) và bà: Trần Thị H3, gia đình có 06 anh em, bị caó là con thứ tư; vợ, con: Không; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- - Ngày 22/10/2007 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; chấp hành xong 31/8/2013. (chưa được xóa án tích)
- - Ngày 07/05/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; chấp hành án xong ngày 02/6/2023. (chưa được xóa án tích)
Nhân thân:
- - Năm 1988 bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- - Ngày 08/6/1992 bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 07/02/1996 bị Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Chấp hành xong tháng 2 năm 1999.
- - Ngày 01/11/1999 bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- - Ngày 17/01/2005 bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Bị caó bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024. Tạm giam ngày:22/8/2024.Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.
4. Phạm Đình T3, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/3/1988, tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Số A Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số D Hồ X, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp11/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không Giới tính: Nam; số thẻ CCCD: [...]. Con ông: Phạm Đình T4 và bà Hoàng Thị P, gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ:Nguyễn Thị H4; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự:Không;
Tiền án:
- Ngày 17/01/2022 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 16 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành án xong ngày 20/01/2023. (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ 15/8/2024. Tạm giam: 22/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Bà Bùi Thị Bích P1- Luật sư - Văn phòng Luật sư Thắng Hoàng G, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. (Có mặt)
Địa chỉ: Số B đường N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- - Anh Lê Xuân C2 sinh năm 1982; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- - Anh Lê Xuân T5, sinh năm 1979; (Vắng mặt)
Địa chỉ: 2 N, phường T, tp T, tỉnh Thanh Hóa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00h30' ngày 14/8/2024 tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T, phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại đường N thuộc phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện xe taxi nhãn hiệu Bắc Trung Nam màu trắng, BKS: 36A-414.60 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện ngồi ghế lái là Nguyễn Văn L (sinh năm 1973, nơi thường trú 0 P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); ngồi vị trí ghế sau ghế phụ lái là Hoàng Thị H1 (sinh năm 1970, nơi thường trú: Số I T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); phát hiện, thu giữ tại ngăn khoá đầu tiên, trong túi vải màu xanh rêu của Hoàng Thị H1 đang đeo trên người có 01 phong bì viền xanh đỏ, bên trong gồm có: 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ đựng các viên nén hình trụ tròn màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ đựng cục vụn màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ đựng chất tinh thể màu trắng; 02 túi nilon màu trắng, viền đỏ đều đựng chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng, viền xanh đựng chất tinh thể màu trắng. H1 khai nhận đây là ma túy heroine, hồng phiến và ma tuý đá của H1 vừa mua được của Nguyễn Thị H (sinh năm 1973, trú tại số F đường V, phường P, quận B, thành phố Hà Nội) cất giấu trong túi xách để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản quả tang và thu giữ toàn bộ số vật chứng trên. Ngoài ra thu giữ của H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 V03.60 gắn sim số 0838281232; 01 điện thoại di động Iphone 6s, gắn sim số 0904.775.932
Tại Kết luận giám định số 3036/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng Kl Công an tỉnh T, kết luận:
- - Các viên nén hình trụ tròn màu đỏ là ma tuý, có tổng khối lượng 4,285g, loại: Methamphetamine;
- - Cục vụn màu trắng là ma tuý, có tổng khối lượng 1,840g, loại: Heroine.
- - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng viền đỏ là ma tuý, có tổng khối lượng là 1,550g, loại: Methamphetamine.
- - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nilon màu trắng viền đỏ và 01 túi nilong màu trắng viền xanh là ma tuý, có tổng khối lượng 0,936g, loại: Methamphetamine.
(Tổng cộng 6,771g Methamphetamine và 1,840 Heroine)
Căn cứ lời khai của H1 và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan CSĐT thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H, quá trình khám xét phát hiện thu giữ:
- - 02 túi nilon màu xanh gồm 01 túi bên trong đựng các viên nén màu đỏ và màu xanh và 01 túi bên trong là lớp nilon màu hồng đựng các viên nén màu đỏ và màu xanh; 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng các viên nén màu đỏ;
- - 09 (chín) túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong mỗi túi đều đựng các cục vụn màu trắng;
- - 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 06 túi nilon nhỏ gồm 03 túi nilon màu trắng màu trắng có viền đỏ và 03 túi nilon màu trắng có viền xanh, 04 túi nilon màu trắng có viền đỏ, bên trong đều đựng chất tinh thể màu trắng.
Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động IPHONE 14 PROMAX, loại màn hình cảm ứng, màu trắng đã qua sử dụng gắn sim số 0812748161 và 0383241992; số tiền 4.200.000đ.
- * Tại bản kết luận giám định số 3055/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: (BL: 82-85)
- - Các viên nén màu đỏ là ma tuý có tổng khối lượng 36,165g, loại: Methamphetamine.
- - Các viên nén màu xanh là ma tuý, có tổng khối lượng 1,017g, loại: Methamphetamine.
- - Các cục vụn màu trắng là ma tuý, có tổng khối lượng là 36,068g, loại: Heroine.
- - Chất tinh thể màu trắng là ma tuý, có tổng khối lượng 15,366g, loại: Methamphetamine.
(Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 52,548g loại: Methamphetamine và 36,068g, loại: Heroine)
* Kết quả điều tra có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 08h ngày 12/8/2024 Phạm Đình T3 (sinh năm 1988, nơi ở hiện tại: 4 Hồ X, phường T, thành phố T) gọi điện thoại cho Hoàng Thị H1 hỏi mua ma tuý đá để sử dụng thì H1 nói hiện tại đã hết ma tuý và chưa có tiền đi mua ma tuý. Lúc này H1 hỏi vay T3 số tiền 5.000.000đ để đi Hà Nội mua ma túy về bán, T3 đồng ý nhưng chỉ cho H1 vay 2.000.000đ. H1 nhắn tin và bảo T3 chuyển tiền vào số tài khoản 7855388888 ngân hàng T11 mang tên NGUYEN THI HANG thì T3 dùng tài khoản số 6999969799999 ngân hàng M1 chuyển 2.000.000đ vào tài khoản trên.
Do vẫn thiếu tiền mua ma túy nên khoảng 10 giờ 30' ngày 12/8/2024 H1 gọi điện cho Nguyễn Xuân T1 (sinh năm 1969, nơi ở hiện tại: 0 H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) hỏi vay tiền để H1 đi mua ma tuý về bán, nhưng T1 không đồng ý. Đến khoảng 09 giờ ngày 13/8/2024 H1 đi đến nhà T1 để vay tiền, tại đây H1 nói với T1 là do kinh tế khó khăn nên hỏi vay của T1 3.000.000đ để đi Hà Nội mua ma tuý về bán kiếm lời. T1 không tin nên yêu cầu H1 đưa số điện thoại của người bán ma tuý cho H1 ở Hà Nội để T1 liên hệ xác nhận có đúng hay không. Sau đó H1 đưa số điện thoại 0812.748.xxx của Nguyễn Thị H cho T1. T1 liền gọi điện cho H hỏi có phải H1 đang thiếu tiền để lấy hàng (ma tuý) không, thì H trả lời “Đúng là H1 đang thiếu tiền”. Sau khi xác nhận xong T1 đồng ý cho H1 vay số tiền là 3.000.000đ thì H1 đưa số tài khoản 7855388888 ngân hàng T11 mang tên NGUYEN THI HANG cho T1. Sau đó T1 dùng tài khoản số 0912607391 ngân hàng M1 chuyển số tiền 3.000.000đ cho H.
Sau khi vay được tiền thì H1 gọi điện cho Nguyễn Thị H hỏi mua 40 viên hồng phiến, nửa chỉ H5 và 02 gam ma tuý đá. H đồng ý và báo giá là 6.000.000₫ thì H1 nói đã chuyển khoản trước 5.000.000đ, số tiền còn thiếu 1.000.000₫ H1 sẽ thanh toán khi giao nhận hàng (ma túy). Đến khoảng 19 giờ ngày 13/8/2024 H1 liên hệ với Nguyễn Văn L (sinh năm 1973, nơi thường trú: 04/130 P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, là lái xe taxi hãng Bắc Trung N1) thuê chở H1 đi Hà Nội rồi quay trở về, hai bên thống nhất giá 1.600.000đ. Đến khoảng 19 giờ 30' cùng ngày, L lái xe đến đón H1 tại chung cư Đ, phường Đ, thành phố T. Sau khi lên xe H1 nói L lái xe chở đến khu vực chợ L2, Thành phố Hà Nội. Khoảng 21 giờ cùng ngày thì đi đến gần chợ L2, lúc này H1 bảo Lưu ở trên xe chờ, còn H1 xuống xe đi bộ thêm khoảng 100m rồi gọi điện thoại cho H thông báo là đã ra đến nơi. H liền bỏ số ma túy H1 hỏi mua vào trong chiếc phong bì thư, rồi cầm theo đi ra gần cổng chợ L2 đưa cho H1 đang đứng chờ sẵn. Nhận được phong bì thư chứa ma túy thì H1 cất giấu vào trong túi vải màu xanh rêu của mình đang đeo trên người rồi đưa cho H 1.000.000đ. Sau đó H1 quay lại chỗ xe taxi đang đứng đợi rồi ngồi ở hàng ghế sau xe bảo Lưu đi về Thanh Hóa. Đến khoảng 00 giờ 30' ngày 14/8/2024 khi xe đi về đến khu vực Ngã tư đèn xanh đèn đỏ giao nhau với đường B thuộc phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thì bị phát hiện bắt quả tang.
Căn cứ vào lời khai của Hoàng Thị H1 và các tài liệu điều tra thu thập được Cơ quan CSĐT đã tiến hành triệu tập và làm việc đối với Phạm Đình T3 và Nguyễn Xuân T1. Nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nên T3 và T1 xin đầu thú và thành khẩn khai báo đã cho Hoàng Thị H1 vay tiền để H1 đi mua ma túy về bán kiếm lời, đồng thời T1 giao nộp 01 điện thoại di động REALME C53, đã qua sử dụng gắn sim số 0879012633; T3 giao nộp 01 điện thoại di động IPHONE, đã qua sử dụng gắn sim số 0889349136.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Trước đó khoảng 01 giờ ngày 10/8/2024 cũng tại khu vực cổng chợ L2, thành phố Hà Nội. Nguyễn Thị H đã bán cho Hoàng Thị H1 01 túi nilon màu trắng đựng heroine và 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy đá lấy 1.000.000đ. Sau đó H1 bắt xe khách đi về nhà rồi chia heroine thành 02 gói nhỏ, chia ma túy đá thành 02 túi nhỏ và cất giấu trong túi xách của H1 mục đích để bán lại kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ ngày 10/8/2024 tại khu vực Hồ T, thuộc phường T, thành phố T, Hoàng Thị H1 đã bán cho Phạm Đình T3 01 túi ma túy đá giá 500.000đ. Có ma túy T3 cất túi vào túi áo rồi đi về nhà tự mình sử dụng hết. Tiếp theo khoảng chiều ngày 10/8/2024 khi H1 đang ở khu vực Hồ T, thuộc phường T, thành phố T thì gặp Nguyễn Xuân T1 thì T1 hỏi H1 mua 300.000₫ ma tuý đá. Do đã quen biết chơi thân với T1 từ trước nên H1 cho T1 01 túi ma túy đá không lấy tiền. Nhận được túi ma túy T1 mang về tự sử dụng hết.
Sau đó vào khoảng 12giờ ngày 13/8/2024 khi H1 đang ở nhà thì Lê Xuân T5 (sinh năm 1979, trú tại: 2 N, phường T, thành phố T) gọi điện cho H1 để đòi nợ số tiền 300.000₫ H1 đã vay trước đó. Do không có tiền và biết T5 cũng sử dụng ma túy, nên H1 bảo T5 là lấy ma tuý Hêroine để trừ nợ. T5 đồng ý, sau đó tại khu vực hồ C thuộc phường Đ, thành phố T, H1 đưa cho T5 01 gói giấy màu trắng đựng Heroine. T5 bỏ gói ma tuý heroine vào túi quần sau đó sử dụng hết. Tiếp theo đến khoảng 16 giờ ngày 13/8/2024 thì Lê Xuân C2 (sinh năm 1982, trú tại: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) gọi điện cho Phạm Đình T3 nhờ mua 500.000₫ Heroine. Sau đó khoảng 17giờ cùng ngày C2 đi xe máy đến khu H thuộc phường T, thành phố T đưa cho T3 500.000đ, T3 cầm tiền rồi bảo C2 đứng chờ. Sau đó T3 đi đến khu vực gần cây xăng Q thuộc đường L, phường Đ, thành phố T đưa cho H1 500.000đ thì H1 đưa cho T3 01 gói giấy đựng ma tuý Heroine. T3 cầm gói ma tuý cất vào túi quần rồi quay về khu vực Hồ T6 đưa cho C2. Sau khi có ma túy Heroine, C2 về nhà tự sử dụng hết.
Đối với chiếc xe ô tô NISSAN, taxi nhãn hiệu Bắc Trung Nam, BKS: 36A-414.60. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Quốc Đ1 (sinh năm 1997, nơi thường trú: 04/130 P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Chiều ngày 13/8/2024 Nguyễn Văn L mượn chiếc xe trên của anh Nguyễn Quốc Đ1 (Anh Đ1 là con trai ông L, cả hai đều chạy dịch vụ taxi) để chở H1 đi ra Hà Nội, rồi quay về thành phố T với giá 1.600.000đ. Lưu không biết H1 thuê chở ra Hà Nội là để H1 mua ma túy, hành vi của Lưu không cấu thành tội phạm. Do đó, Cơ quan CSĐT trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Quốc Đ1
Chuyển các chất ma tuý còn lại sau khi giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 V03.60 gắn sim số 0838281232, 01 điện thoại di động Iphone 6s, gắn sim số 0904.775.932 của Hoàng Thị H1; 01 điện thoại di động REALME C53, gắn sim số 0879012633 của Nguyễn Xuân T1; 01 điện thoại di động IPHONE, gắn sim số 0889.349.xxx của Phạm Đình T3; 01 điện thoại di động IPHONE 14 PRO MAX, gắn sim số 0812748161 và 0383241992, số tiền 4.200.000đ của Nguyễn Thị H đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để quản lý, bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.-
Đối với nguồn gốc ma túy trên Nguyễn Thị H khai là mua của một người nam giới có tên “C3”, khoảng hơn 35 tuổi, cao khoảng 1,7m, dáng người to, béo tại khu vực gần cổng chợ L2 vào ngày 08/8/2024 với giá 10.000.000đ. Tiến hành xác minh Cơ quan CSĐT không xác định được người nam giới nào tên là “C3” có đặc điểm nhận dạng như trên nên không có cơ sở xử lý.
Đối với Lê Xuân T5 và Lê Xuân C2 đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án và kết quả xét nghiệm nước tiểu của Lê Xuân T5 và Lê Xuân C2 dương tính với ma túy loại Heroine. Do đó, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 và C2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, là đúng quy định.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSTH-P1 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố Nguyễn Thị Hằng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hoàng Thị H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b,p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Xuân T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Phạm Đình T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo Nguyễn Thị H, Hoàng Thị H1, Nguyễn Xuân T1, Phạm Đình T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3,5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự .
Đề nghị Nguyễn Thị H mức hình phạt từ 18( Mười tám) năm tù đến 19 ( Mười chín) năm tù ;
Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ.
Áp dụng điểm b,p khoản 2,5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt Hoàng Thị H1 từ 09( Chín) năm tù đến 10 (M) năm tù ;
Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ.
Áp dụng điểm q khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 , Điều 38 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt Nguyễn Xuân T1 mức án từ 07( B) năm tù đến 07 ( Bảy) năm 06 ( Sáu) tháng tù ;
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt Phạm Đình T3 mức hình phạt từ 33 ( Ba mươi ba)tháng tù đến 39 ( Ba mươi chín) tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung
Về xử lý vật chứng
Áp dụng a khoản 1 Điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 V03.60 gắn sim số 0838281232, của Hoàng Thị H1; 01 điện thoại di động REALME C53, gắn sim số 0879012633 của Nguyễn Xuân T1; 01 điện thoại di động IPHONE, gắn sim số 0889.349.xxx của Phạm Đình T3; 01 điện thoại di động IPHONE 14 PRO MAX, gắn sim số 0812748161 và 0383241992.
- Trả lại cho Hoàng Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, 01 điện thoại di động Iphone 6s, gắn sim số 0904.775.932.
- Trả lại cho Nguyễn Thị Hằng S tiền 4.200.000đ nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo công tác Thi hành án.
- - Truy thu số tiền các bị cáo do phạm tội mà có, truy thu của Nguyễn Thị Hằng số tiền 7.000.000 đồng tiền bán trái phép chất ma túy với Hoàng Thị H1; Truy thu của Hoàng Thị H1 số tiền 1.300.000 đồng thu được từ việc mua bán ma túy với T3 và T5;
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí buộc các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Các bị cáo không có ý kiến bào chữa. Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Thị H đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện KSND tỉnh T truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo có đơn xin đầu thú. Do vậy đề nghị HĐXX căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, một lần nữa các bị cáo khai: Khoảng 01 giờ ngày 10/8/2024 tại khu vực cổng chợ L2, Thành phố Hà Nội. Nguyễn Thị H đã bán cho Hoàng Thị H1 01 túi ma túy heroine và 01 túi ma túy Methamphetamine với giá 1.000.000đ. Đến khoảng 15giờ ngày 10/8/2024 tại khu vực Hồ T, thuộc phường T, thành phố T. Hoàng Thị H1 đã bán cho Phạm Đình T3 01 túi ma túy Methamphetamine giá 500.000đ. Vào khoảng 12h ngày 13/8/2024 tại khu vực hồ C thuộc phường Đ, thành phố T, H1 đã bán cho Lê Xuân T5 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000đ. Tiếp tục đến khoảng 16h ngày 13/8/2024 tại khu vực gần cây xăng Q thuộc đường L, phường Đ, thành phố T H1 tiếp tục bán cho Phạm Đình T3 01 gói ma tuý Heroine với giá 500.000đ.
Vào khoảng 08giờ ngày 12/8/2024 Phạm Đình T3 biết Hoàng Thị H1 không đủ tiền để đi Hà Nội mua ma túy về bán kiếm lời, nên khi H1 hỏi vay tiền thì T3 đã cho H1 vay 2.000.000đ rồi chuyển khoản cho Nguyễn Thị H. Do vẫn chưa đủ nên khoảng 09 giờ ngày 13/8/2024 H1 đến nhà Nguyễn Xuân T1. Tại đây H1 nói với T1 không đủ tiền đi Hà Nội mua ma túy về bán nên hỏi vay T1 3.000.000đ. T1 đồng ý rồi chuyển khoản cho Nguyễn Thị H 3.000.000đ.
Đến khoảng 19giờ 20' ngày 13/8/2025 H1 bắt taxi đi ra khu vực chợ L2, Thành phố Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì đến nơi, tại đây H1 mua của Nguyễn Thị H 40 viên Methamphetamine, nửa chỉ Heroine và 02 gam ma tuý Methamphetamine với giá 6.000.000đ. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/8/2024 khi xe đi về đến khu vực Ngã tư đèn xanh đèn đỏ giao nhau với đường B thuộc phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên. Qua giám định là ma túy có tổng cộng 6,771g, loại Methamphetamine và 1,840g, loại Heroine (Tổng hai chất ma túy là 8,611g).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị H ở số F đường V, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội. Cơ quan CSĐT phát hiện thu giữ nhiều túi nilon bên trong chứa các viên ma túy hồng phiến, ma túy đá và H5 mà H cất giấu để bán kiếm lời. Qua giám định tất cả đều là ma túy và có tổng khối lượng là 52,548g loại: Methamphetamine và 36,068g, loại: Heroine (Tổng hai chất ma túy là 88,616g).
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản khám xét, biên bản làm việc, người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hoàng Thị H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b,p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Xuân T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Phạm Đình T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khởi tố bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án: Tệ nạn và tội phạm về ma túy là hiểm họa cho toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến kinh tế, đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác, là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Vì một chút lợi nhuận các bị cáo đã mua bán trái phép chất ma tuý để kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Về nhân thân và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Nguyễn Thị H là người trực tiếp bán ma tuý cho Hoàng Thị H1. Nguyễn Thị H phải chịu trách nhiệm và bị xử lý hình sự về toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án, tổng số khối lượng 02 loại ma tuý là 97,272 gam nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn Hoàng Thị H1 .
Hoàng Thị H1 là người trực tiếp liên lạc mua ma túy về bán lại cho các bị cáo khác kiếm lời nên giữ vai trò, vị trí thứ hai trong vụ án. Nguyễn Xuân T1 biết rõ Hoàng Thị H1 vay tiền để mua ma tuý của Nguyễn Thị H về bán kiếm lời nhưng vẫn đồng ý cho H1 vay tiền và trực tiếp chuyển tiền cho H nên trong vụ án này T1 đồng phạm cùng H1 có vay trò giúp sức bản thân T1 đã tái phạm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” nay lại tiếp tục phạm tội với vai trò giúp sức với Hoàng Thị H1 nên phải chịu tình tiết định khung Tái phạm nguy hiểm nên giữ vị trí thứ ba của vụ án. Phạm Minh T7 biết rõ Hoàng Thị H1 vay tiền để mua ma túy để bán kiếm lời nhưng vẫn cho H1 vay và T7 cũng trực tiếp chuyển tiền vào tài khoản cho Nguyễn Thị H nên đồng phạm với vai trò giúp sức, tuy nhiên Phạm Minh T7 cũng như Nguyễn Xuân T1 khi cho H1 vay tiền biết rõ H1 vay để mua ma tuý để bán nhưng không biết số lượng ma tuý bao nhiêu, ngoài ra T7 còn mua hộ 01 gói ma tuý từ Hoàng Thị H1 cho Nguyễn Xuân C4 nên T7 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 BLHS.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Nguyễn Thị H là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của Hoàng Thị H1, Nguyễn Xuân T1 là rất nghiêm trọng, hành vi của Phạm Minh T7 là nghiêm trọng đã xâm phạm vào chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Trong vụ án này, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử nhiều lần về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý .Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, việc cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Đối với bị cáo Phạm Đình T3 tại Bản án số 61/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa bị xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo chấp hành xong ngày 20/01/2023. Tính đến lần phạm tội này Phạm Đình T3 chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”. theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với Hoàng Thị H1 tại Bản án số 293/2021/HSST ngày 17/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa bị cáo bị xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo H1 chấp hành xong ngày 20/12/2022. Tính đến lần phạm tội này Hoàng Thị H1 chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Thị H 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Thị H1 nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Đình T3, Nguyễn Xuân T1 có đơn xin đầu thú, do đó các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Hoàng Thị H1 phạm tội mang tính vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo cụ thể phạt Nguyễn Thị H 10.000.000 đồng, phạt Hoàng Thị H1 10.000.000 đồng để sung nộp ngân sách nhà nước.
Các bị cáo Nguyễn Nguyễn Xuân T1, Phạm Đình T3 phạm tội nhưng không được hưởng lợi nên miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Truy thu số tiền các bị cáo do phạm tội mà có, truy thu của Nguyễn Thị Hằng số tiền 7.000.000 đồng tiền bán trái phép chất ma túy với Hoàng Thị H1; Truy thu của Hoàng Thị H1 số tiền 1.300.000 đồng thu được từ việc mua bán ma túy với T3 và T5;
[6]. Về vật chứng:
Áp dụng a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 V03.60 gắn sim số 0838281232, của Hoàng Thị H1; 01 điện thoại di động REALME C53, gắn sim số 0879012633 của Nguyễn Xuân T1; 01 điện thoại di động IPHONE, gắn sim số 0889.349.xxx của Phạm Đình T3; 01 điện thoại di động IPHONE 14 PRO MAX, gắn sim số 0812748161 và 0383241992.
- Trả lại cho Hoàng Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, 01 điện thoại di động Iphone 6s, gắn sim số 0904.775.932.
- Đối với số tiền 4.200.000đ thu của Nguyễn Thị H bị cáo khai là tiền bán hoa quả của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm h khoản 3, 5 Điều 251 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị H
Áp dụng điểm b,p khoản 2,5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Thị H1
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Xuân T1
Áp dụng khoản1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Đình T3
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Hoàng Thị H1, Nguyễn Xuân T8, Phạm Đình T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
xử phạt : 1. Nguyễn Thị H 18( Mười tám ) năm 06 ( S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2024.
Hình phạt bổ sung:Phạt bị cáo 10.000.000 đồng để sung nộp ngân sách nhà nước.
2. Hoàng Thị H1 09 ( Chín ) năm 06 ( S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
Hình phạt bổ sung:Phạt bị cáo 10.000.000 đồng để sung nộp ngân sách nhà nước.
3. Nguyễn Xuân T1 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Phạm Đình T3 36( Ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền các bị cáo do phạm tội mà có, để sung nộp ngân sách nhà nước: Truy thu của Nguyễn Thị Hằng số tiền 7.000.000 đồng. Truy thu của Hoàng Thị H1 số tiền 1.300.000 đồng
Về vật chứng: Áp dụng a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý thu của các bị cáo còn lại sau giám định gồm: 01 (một) Hộp giấy cát tông được dán kin niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Văn T9, Lê Minh T10, Lại Thị Thanh L1 và các hình dầu của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGD số 3055/KL-KTHS ngày 21/8/2024).
01(một) Phong bì được dàn kin niêm phong ký hiệu TI, mặt trước ghi: “PC04 T/c1880 ngày 14/8/2024". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T10, Nguyễn Văn T9 và các hinh dầu của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kém KLGD số 3036/KL-KTHS ngày 20/8/2024)
01 (một) Túi vải màu xanh rêu có chữ CecilMcBee, đã qua sử dụng,
Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) Điện thoại di động Iphone, màu đen. Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng mày bên trong, thu của Tuần
- 01 (một) Điện thoại di động Iphone, màu trắng. Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong, thu của H
- 01(một) Điện thoại di động Realme, màu trắng ánh vàng. Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng mày bên trong, thu của T1.
- 01 (một) Điện thoại di động Nokia, màu đen đạng bàn phím. Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng mày bên trong, thu của H1 .
Trả lại cho Hoàng Thị H1 : 01 (một) Điện thoại di động Iphone 6s,( đã cũ) 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh.( Đã cũ)
(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 63/2024/TV-CTHADS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa Công an tỉnh T với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa )
Trả lại cho Nguyễn Thị Hằng S tiền 4.200.000đ nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo công tác thi hành án. Hiện số tiền trên đang lưu giữ tại số tài khoản: 3949.0.1054196.0000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Hoàng Thị Nguyệt |
Bản án số 31/2025/HSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 31/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H + ĐP "Mua bán trái phép chất ma túy"
