|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 30/10/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Luân và bà Lê Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Trần Thị Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị.
- Thư ký phiên toà tại điểm cầu thành phần: Bà Đặng Thị Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị.- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Phúc Minh - Kiểm sát viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Hoàng Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung trâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị; địa chỉ: Số F N, phường Q, tỉnh Quảng Trị và điểm cầu thành phần: Hội trường xét xử của Toà án nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị; địa chỉ: Số F N, xã T, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức phiên tòa trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Thị T1;
sinh ngày 22/02/1963, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu V, phường H, thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Đại Đ (đã chết) và bà: Đoàn Thị O (đã chết); chồng: Nguyễn Hữu K, sinh năm 1958; có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1998;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2025 đến ngày 01/7/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Hồ Thị Như Ý, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A P, phường P, thành phố H - Vắng mặt.
- Ông Trần Đình N, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T, xã D, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Ông Tạ Văn V1, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn L, xã C, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 26/6/2025, bị cáo Đoàn Thị T1 mang theo bánh kẹo, thuốc lá Sài gòn, thuốc lá AROMA và đồ gia công khác đi từ nhà của mình ra quầy hàng của T1 thuộc lô số 18 tại chợ Đ1, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị) để bán cho những người có nhu cầu. Trong quá trình bán hàng tại quầy của mình, khoảng 15 giờ cùng ngày bị cáo T1 có mua 11 cây thuốc lá JET (110 bao) với số tiền là 198.000 đồng/01 cây và 211 cây thuốc lá ESSE (2.110 bao) với số tiền 220.000 đồng/01 cây của nhiều người đi từ 03 xe ô tô chạy tuyến Lao Bảo chở hàng về đậu bãi trước mặt chợ Đ1, nhằm mục đích đem vào thành phố H bán lại để kiếm lời.
Sau khi mua thuốc lá xong, bị cáo T1 tìm các góc khuất, vị trí không có camera giám sát an ninh và ít người qua lại để đóng gói số thuốc lá mua được vào trong 07 túi nylon và giấu 07 túi nylon đựng thuốc lá này vào 04 vị trí xung quanh chợ. Sau đó, bị cáo T1 xách các túi thuốc lá ra trạm xe buýt trước chợ Đ1 để đón xe buýt vào lại thành phố H. Khoảng gần 17 giờ 30 phút, bị cáo T1 đón được xe buýt (bị cáo T1 không nhớ biển số xe) và đi vào thành phố H. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày khi xe vào đến địa phận xã H, huyện H (nay là xã D, tỉnh Quảng Trị) thì bị lực lượng chức năng đón lại kiểm tra. Quá trình kiểm tra phương tiện, phát hiện toàn bộ số thuốc lá mà bị cáo T1 đưa lên xe để vận chuyển vào thành phố H bán kiếm lời. Lực lượng chức năng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ, niêm phong tang vật để xử lý theo quy định.
Ngoài ra, kiểm tra trên xe buýt còn có 50 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE (500 bao) và 85 cây thuốc lá nhãn hiệu JET (850 bao) của bà Hồ Thị Như Ý, sinh năm 1973, trú tại số A P, phường Đ, thành phố H (nay là phường P, thành phố H) cũng vận chuyển vào thành phố H để bán kiếm lời. Toàn bộ số hàng hoá nêu trên của bị cáo T1 và bà Ý đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Tuy nhiên, hành vi vi phạm của bị cáo T1 và bà Ý độc lập, không có sự trao đổi bàn bạc gì với nhau. Do đó, hành vi của bà Hồ Thị Như Ý được xem xét, xử lý bởi một vụ việc khác.
Tại bản Kết luận giám định số 735/KL-KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
- - 2.110 bao (hai nghìn một trăm mười bao) thuốc lá ghi nhãn hiệu ESSE, được niêm phong trong các thùng cát tông có ký hiệu ET1, ET2, ET3 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm (loại 20 điếu/bao), không phải là thuốc lá điếu sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
- - 110 bao (một trăm mười bao) thuốc lá ghi nhãn hiệu JET được niêm phong trong thùng giấy cát tông có ký hiệu JT1 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm (loại 20 điếu/bao), không phải là thuốc lá điếu sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
Bản cáo trạng số 20/CT- VKSKV6 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị truy tố bị cáo Đoàn Thị T1 về tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Thị T1 về tội danh như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo:
- - Hình phạt chính: Từ 18 đến 21 tháng từ cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Hình phạt bổ sung: Không.
- - Về Xử lý vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:
- Tịch thu tiêu hủy: Số thuốc lá nhãn hiệu ESSE đựng trong 03 thùng giấy carton ghi ký hiệu TE1, TE2, TE3; số thuốc lá nhãn hiệu JET đựng trong 01 thùng giấy carton ghi ký hiệu TJ1 và các bao gói đựng trong 01 thùng giấy carton, ghi ký hiệu BT1.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu xanh, bên trong có gắn 01 the sim Mobifone.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Đoàn Thị T1 không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Ngày 26/6/2025, bị cáo Đoàn Thị T1 có hành vi mua 2.110 bao thuốc lá ghi nhãn hiệu ESSE, 110 bao thuốc lá ghi nhãn hiệu JET của nhiều người không rõ lại lịch, cả hai loại thuốc lá đều do nước ngoài sản xuất, không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ để đưa số thuốc lá này vào Huế nhằm bán lại kiếm lời, khi đến địa phận xã D, tỉnh Quảng Trị lúc 18 giờ 50 phút thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa, nên đủ yếu tố cấu thành tội: "Buôn bán hàng cấm" quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
[3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo 62 tuổi, là phụ nữ đã lớn tuổi, sức khoẻ giảm sút, gia đình khó khăn về kinh tế được chính quyền địa phương xác nhận; tích cực tham gia hoạt động cộng đồng, là hội viên của phòng khám T2, đóng góp hàng tháng trong việc duy trì chi phí khám chữa bệnh miễn phí cho người có hoàn cảnh khó khăn... nên HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS cho bị cáo (theo tinh thần của khoản 9, khoản 10 Điều 3 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 có hiệu lực ngày 15/11/2025 về hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự...)
[4] Về hình phạt: Xét bị cáo Đoàn Thị T1 có đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, áp dụng khoản 1, 2 và 5 Điều 65 BLHS, xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo vẫn đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T1.
[5] Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS, huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đoàn Thị T1.
[6] Đối với hành vi vận chuyển 500 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE và 850 bao thuốc lá nhãn hiệu JET của bà Hồ Thị Như Ý nhằm mục đích bán lại để kiếm lời, hành vi của bà Hồ Thị Như Ý độc lập, không có sự trao đổi bàn bạc gì với của bị cáo T1, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bà Hồ Thị Như Ý.
Hành vi của ông Trần Đình N và ông Tạ Văn V2 (là lái xe và phụ xe buýt) đã đón, chở Đoàn Thị T1 và hàng hoá trên xe ô tô nhưng không biết số hàng hoá của bị cáo T1 mang theo là thuốc lá điếu nhập lậu nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu huỷ số thuốc lá điếu, các bao gói hoàn lại sau giám định.
Đối với điện thoại di động Samsung Galaxy A05 của bị cáo T1 không sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị T1 phạm tội "Buôn bán hàng cấm".
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị T1: 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Thị T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng UBND phường H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thứ thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu và tiêu hủy:
- + 01 (một) thùng giấy carton, ghi ký hiệu TE1 được dán niêm phong tại mặt trên và mặt dưới thùng giấy. (Theo bản kết luận giám định số 735/KL-KTHS ngày 30/06/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
- + 01 (một) thùng giấy carton, ghi ký hiệu TE2 được dán niêm phong tại mặt trên và mặt dưới thùng giấy. (Theo bản kết luận giám định số 735/KL-KTHS ngày 30/06/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
- + 01 (một) thùng giấy carton, ghi ký hiệu TE3 được dán niêm phong tại mặt trên và mặt dưới thùng giấy. (Theo bản kết luận giám định số 735/KL-KTHS ngày 30/06/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
- + 01 (một) thùng giấy carton, ghi ký hiệu TJ1 được dán niêm phong tại mặt trên và mặt dưới thùng giấy. (Theo bản kết luận giám định số 735/KL-KTHS ngày 30/06/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
- + 01 (một) thùng giấy carton, ghi ký hiệu BT1 (đã qua sử dụng).
- - Trả lại cho bị cáo Đoàn Thị T1: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu xanh, tên kiểu thiết bị: SM-A055F/DS số seri: R92X30M70LK, IMEI 354660972959939; bên trong có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401221033209147 của Đoàn Thị T1, đã qua sử dụng.
Vật chứng, tài sản nêu trên hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Quảng Trị.
- - Tịch thu và tiêu hủy:
- Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Đoàn Thị T1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; - THADS KV6, tỉnh Quảng Trị; - VKSND khu vực 6 - Quảng Trị; - UBND P. Hương An, TP. Huế; - Bị cáo; - THA hình sự; - Lưu tổ HC-TP; - Lưu hồ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thị Thu phạm tội "Buôn bán hàng cấm"