|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH Bản án số: 31/2025/HS - ST Ngày 30/9/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lương Sỹ Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Đình Sỹ.
- Ông Phạm Hồng Chương
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa, Bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 30/9/2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST - HS ngày 19/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST - HS, ngày 19 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1984 tại: tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Chức vụ, cấp bậc: Không. Họ tên cha: Nguyễn Văn T1 (đã chết). Họ tên mẹ: Trần Thị C, sinh năm 1958, Nghề nghiệp: Già yếu. Hiện cư trú tại thôn M, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Phan Thị T2; Sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con: Có 02 người, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 7 năm 2025 đến ngày 25 tháng 7 năm 2025, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn M, xã T, tỉnh Hà Tĩnh và biện pháp Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/7/2025 đến nay.
- Họ và tên: Trịnh Văn N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1985 tại: tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Chức vụ, cấp bậc: Không. Họ tên cha: Trịnh Quốc Á, sinh năm 1957 (Đã chết). Họ tên mẹ: Trần Thị M, sinh năm 1961; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Hiện cư trú tại thôn H, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Hà P; Sinh năm: 1989, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con: Có ba người, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/02/2018, bị Công an huyện N ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng, hiện bị cáo đã thi hành.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 7 năm 2025 đến ngày 25 tháng 7 năm 2025, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn H, xã T, tỉnh Hà Tĩnh và biện pháp Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/7/2025 đến nay.
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc T3; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 04 tháng 10 năm 1983 tại: tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Chức vụ, cấp bậc: Không. Họ tên cha: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1955 (bỏ đi khỏi địa phương). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1955; Nghề nghiệp: Hưu trí. Hiện cư trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: Bị cáo là con một. Vợ: Phan Thị D; Sinh năm: 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con: Có 02 người, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2014. Nhân thân, Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 7 năm 2025 đến ngày 25 tháng 7 năm 2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh và biện pháp Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/7/2025 đến nay.
- Họ và tên: Phạm Văn T4; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16 tháng 10 năm 1988 tại: tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ, cấp bậc: Không. Họ tên cha: Phạm Minh Đ; Sinh năm 1955; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Họ tên mẹ: Trịnh Thị L; Sinh năm 1957; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Hiện đều cư trú tại thôn T, xã T, Hà Tĩnh. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 7 năm 2025 đến ngày 25 tháng 7 năm 2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh và biện pháp Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/7/2025 đến nay. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa sức khoẻ bình thường và tự bào chữa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị T2, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
* Người làm chứng: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 23/7/2025, trong khi uống nước tại quán C4 ở thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 rủ nhau buổi trưa đến nhà chị Phan Thị T2 (sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã T, tỉnh Hà Tĩnh) để đánh bài ăn tiền. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Trịnh Văn N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 lần lượt đi bộ đến nhà chị Phan Thị T2. Khi đến nơi thì anh Trịnh Văn N1 chồng chị T2 đi vắng, chị T2 cùng con nhỏ ăn cơm trong nhà bếp. Sau khi ngồi uống nước tại bàn trước sân nhà chị T2, Trịnh Văn N lấy bộ bài “T5 lơ khơ” có sẵn ở bàn nhà chị T2, trải chiếu nhựa có sẵn xuống sân và cùng ngồi xuống đánh bạc bằng hình thức chơi bài “T6 lên Miền Nam” được thua bằng tiền.
Hình thức đánh bài “T6 lên M” như sau: Các bị cáo sử dụng bộ bài “Tulokhơ” gồm 52 quân bài, chia làm 04 phần, mỗi phần gồm 13 quân bài, sau khi lên bài, ván đầu tiên, quyền đánh trước là người có quân bài “3 chuồn”. Từ ván sau trở đi người thắng nhất ở ván trước sẽ được quyền đánh trước ván tiếp theo, theo ngược chiều kim đồng hồ, mỗi người được ra một lá hoặc một bộ nhiều lá, người ra sau phải đánh bài có cùng loại và cao hơn người đánh trước, trừ trường hợp chặt (L1 là cùng lá bài rác, đôi, bộ B1, sảnh), trong vòng đánh nếu một người bỏ lượt thì coi như bỏ cả vòng, nếu không còn ai chặn được tiếp thì người đánh cuối cùng được ra bài bắt đầu vòng mới. Khi có người đánh hết bài thì những người còn lại thua cuộc và mỗi người phải trả cho người thắng số tiền 50.000 đồng, quá trình có người về nhất mà trên bài người thua còn các quân bài hai bích hoặc hai chuồn (thối 2) thì mỗi quân bài phải trả thêm cho người thắng 50.000 đồng và các quân bài hai cơ và hai rô thì mỗi quân bài trả thêm cho người thắng 100.000 đồng. Trong quá trình đánh mà người nào bị chặt tứ quý (04 quân bài giống nhau) (ví dụ: Bốn quân bài đều quân 8, mỗi quân tương ứng với C2, R, C3, B) hoặc bị chặt ba đôi thông (hai quân bài giống nhau được ghép theo thứ tự thành ba đôi) (Ví dụ: đôi 3, đôi 4, đôi 5) thì người bị chặt hai phải trả tiền cho người chặt tương ứng số tiền: Quân hai bích hoặc hai chuồn thì mỗi quân bài phải trả cho người chặt 50.000 đồng và các quân bài hai cơ và hai rô thì mỗi quân bài trả cho người chặt 100.000 đồng. Trường hợp người về nhất mà đánh quân bài ba bích sau cùng thì mỗi người thua phải trả cho người thắng 150.000 đồng. Trường hợp người nào đánh quân bài ba bích sau cùng mà bị người khác đánh quân bài lớn hơn chặn lại, không có bài lớn hơn đề đánh quân ba bích thì người cầm quân bài ba bích sau cùng phải trả cho người chặn lại số tiền 450.000 đồng (Đền B2 bích). Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc tổng cộng số tiền là: 8.900.000 đồng tiền ngân hàng N2, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, 01 bộ bài Tú lơ khơ và 01 một chiếu nhựa dùng để trải ngồi đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, các bị cáo nói với chị Trang chủ nhà là đánh ghi điểm uống nước.
Quá trình điều tra đã xác định các bị cáo sử dụng số tiền 8.900.000 đồng để đánh bạc. Trong đó: Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 3.200.000 đồng, Trịnh Văn N sử dụng số tiền 3.300.000 đồng, Nguyễn Ngọc T3 sử dụng số tiền 1.400.000 đồng và Phạm Văn T4 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- Số tiền 8.900.000 đồng gồm nhiều mệnh giá tiền Ngân hàng N2;
- 01 bộ bài tu lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng.
- 01 chiếu nhựa có hình hoa văn, đã qua sử dụng.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Văn T4; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K, màn hình cảm ứng màu bạc, thu giữ của Nguyễn Ngọc T3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11 màn hình cảm ứng, vỏ màu bạc, thu giữ của Trịnh Văn N.
Quá trình điều tra đã xác định, số tiền 8.900.000 đồng do Ngân hàng N2 phát hành, 01 bộ bài Tu lơ khơ và 01 chiếc chiếu là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Số vật chứng này chưa xử lý, được chuyển đến kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với 04 chiếc điện thoại di động của Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc, nên Cơ quan CSĐT đã trả lại cho các chủ sỡ hữu
Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKS-KV3 ngày 17/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Kết luận các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội: “Đánh bạc” và phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn N. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng về tội: “Đánh bạc” và phạt bổ sung bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T3. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội: “Đánh bạc” và phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T4. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội: “Đánh bạc” và phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.900.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy: Các vật chứng là công cụ phục vụ đánh bạc gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng, 01 chiếu nhựa có hình hoa văn, đã qua sử dụng.
* Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng khai đúng như Cáo trang đã mô tả, không có ý kiến gì.
Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 00 phút đến 15 giờ 00 phút ngày 23/7/2025, tại nhà Phan Thị T2 (sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã T), Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 đã có hành vi đánh bạc, bằng hình thức đánh “T6 lên M”. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.900.000 đồng, trong đó: Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 3.200.000 đồng, Trịnh Văn N sử dụng số tiền 3.300.000 đồng, Nguyễn Ngọc T3 sử dụng số tiền 1.400.000 đồng và Phạm Văn T4 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 24/CT - VKS - KV3 ngày 17/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[2.2]. Tính chất nguy hiểm của hành vị: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh của xã hội ở cộng đồng dân cư và dễ dẫn đến làm phát sinh những tiêu cực khác, nên cần xử phạt mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, nên khi lượng hình cần xem xét đến vai trò, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, để quyết định hình phạt phù hợp.
[2.3]. Về hình phạt chính đối với các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng tham gia đánh bạc, trong bốn bị cáo thì bị cáo Trịnh Văn N có nhân thân xấu. Do đó, cần xử lên một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Nguyễn Văn T có bố ruột là ông Nguyễn Văn T1 tham gia kháng chiến được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho các bị cáo được hưởng chính sách pháp luật hình sự quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 đều không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn T có bố ruột là ông Nguyễn Văn T1 tham gia kháng chiến được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về xử lý vật chứng vụ án:
- Tiền Ngân hàng N2: 8.900.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc đây là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng, 01 chiếu nhựa có hình hoa văn, đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc đánh bạc, tài sản này của chị Phan Thị T2 tại phiên toà chị T2 có ý kiến là không nhận lại, nên tich thu tiêu hủy.
[7]. Đối với những người liên quan trong vụ án: Chị Phan Thị T2 là chủ nhà nơi các bị cáo đánh bạc, nhưng quá trình chị T2 không biết các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại nhà mình và không thu lợi gì, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội quy định tại Điều 321, Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh thực hành quyền công tố tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử lý về hình phạt chính; Hình phạt bổ sung; Xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí như trong bản luận tội đã nêu. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận và sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt và các vấn đề khác liên quan
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Q1 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn N.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T3.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T4.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Trịnh Văn N 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T3 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T4 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 cho UBND và Công an xã T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương và Công an trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.900.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng, 01 chiếu nhựa có hình hoa văn, đã qua sử dụng (Tất cả vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh ngày 19/9/2025).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn N, Nguyễn Ngọc T3 và Phạm Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Sỹ Nam |
Bản án số 31/2025/HS - ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 31/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Nguyễn Văn Th và đồng phạm tội phạm đánh bạc
