|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày 29-5-2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Văn Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Ngọc Lợi và bà Phan Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp tham gia phiên toà: ông Phạm Huy Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Thị H, sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Thôn I, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký tạm trú: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; con ông Dương Đình H1 và bà Phạm Thị L; chồng là Phạm Văn B (đã ly hôn) có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 20/01/2025; đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
- Bà Trịnh Thị Thảo Q, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
-
- Bà Quách Thị V, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt.
-
- Ông Hoàng Anh K, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
-
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
-
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tháng 10/2022, Dương Thị H thuê lại cơ sở kinh doanh xông hơi, Massage B của bà Nguyễn Thị M để hoạt động kinh doanh dịch vụ Massage. Quá trình hoạt động, H thuê 02 nhân viên là Trịnh Thị Thảo Q và Quách Thị V với tiền lương mỗi tháng là 5.000.000 đồng/người và được ở lại cơ sở miễn phí. Tiền vé Massage H bán với giá 200.000 đồng/vé/ người. Khoảng từ tháng 9/2024, hoạt động kinh doanh ế ẩm nên H đồng ý để cho nhân viên bán dâm, kích dục cho khách tại cơ sở kinh doanh nhằm mục đích thu hút khách đến xông hơi Massage nhiều hơn từ đó bán được nhiều vé hơn. H và các nhân viên thống nhất nếu khách có nhu cầu mua dâm thì nhân viên được quyền thỏa thuận bán dâm, kích dục cho khách, giá cả do nhân viên tự thỏa thuận và tự thu tiền của khách ở trong phòng xông hơi, các nhân viên được hưởng toàn bộ số tiền này. Nếu khách đặt vấn đề mua dâm với H thì H thu của khách 500.000 đồng/lượt, sau đó sẽ đưa lại cho nhân viên. Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2024, anh Hoàng Anh K và Trần Văn S đến cơ sở M1 sử dụng dịch vụ. K đứng ra mua 02 vé với số tiền là 400.000 đồng, do biết H đang ốm nên K cho thêm 100.000 đồng. K đặt vấn đề mua dâm và hỏi giá thì được H báo giá là 500.000 đồng/01 lượt/người; K và S mỗi người đưa cho H 500.000 đồng để trả tiền mua dâm. Sau khi nhận đủ số tiền vé và tiền mua dâm, H hướng dẫn cho K vào phòng số 03, S vào phòng số 05 và mở máy xông hơi của hai phòng. Sau đó, H gọi Q và V lên Massage, bán dâm cho khách thì chỉ có V đang ở phòng còn Q đi chợ mua đồ. H gọi điện cho Q qua mạng xã hội Zalo về để phục vụ cho khách. Khoảng 05-10 phút sau Q về, H đưa cho Q, V mỗi người 500.000 đồng và nói tiền khách mua dâm đưa nên đừng lấy nữa. H nói V vào phòng số 03, Q vào phòng số 05 còn H đến ngồi trên giường ở trước nhà cảnh giới. Sau khoảng 10 phút thì cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Q đang quan hệ tình dục (bán dâm) cho S ở phòng số 05 và V đang quan hệ tình dục (bán dâm) cho K ở phòng số 03.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu của vụ án thu giữ được: Thu giữ tại phòng số 03 01 bao cao su đã qua sử dụng, có vỏ bao màu hồng, không rõ nhãn hiệu, có in hình bông hoa màu trắng và hình trái tim màu đỏ; 01 bao cao su chưa sử dụng màu trắng, hiệu HA; 01 bịch khăn lạnh đã qua sử dụng hiệu BOPPY. Thu giữ tại phòng số 05 01 bao cao su đã qua sử dụng, màu trắng, hiệu HA; 01 bao cao su chưa qua sử dụng, màu trắng, hiệu HA; 01 khăn lạnh đã qua sử dụng, màu trắng có hiệu Macica. Thu giữ của Dương Thị H 02 tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng; 01 điện thoại di động (nhãn hiệu OPPO RENO8, kiểu máy CPH2359, màu vàng, có gắn sim số 0352133167, 0373262452, đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A21S,
kiểu máy SM-A217F/DS, màu xanh, đã qua sử dụng. Thu giữ của Trịnh Thị Thảo Q 500.000 đồng và Quách Thị V 500.000 đồng (Q và V giao nộp).
Cáo trạng số: 42/CT-VKS-ĐL ngày 21/4/2025 của VKSND huyện Đắk R'lấp đã truy tố bị cáo Dương Thị H về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Thị H về tội “Chứa mại dâm”. Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Thị Hiền T 15 tháng đến 21tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 30 tháng đến 42 tháng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 bao cao su chưa sử dụng; 02 bịch khăn lạnh đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 500.000 đồng thu giữ của Trịnh Thị Thảo Q và 500.000 đồng thu giữ của Quách Thị V. Trả lại cho Dương Thị H 500.000 đồng do không liên quan đến tội phạm.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo đang nuôi mẹ và con nhỏ trong độ tuổi đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Đắk R'lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2024, tại cơ sở kinh doanh xông hơi, massage B thuộc thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Dương Thị H có hành vi đồng ý cho Q và V (nhân viên) sử dụng cơ sở massage do H quản lý để làm nơi bán dâm cho khách. Q và V đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục (bán dâm) cho Hoàng Anh K và Trần Văn S thì bị Cơ quan CSĐT đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” quy định tại
khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Cáo trạng truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tính tiết tăng nặng.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải; gia đình bị cáo là người có công với cách mạng (ông Dương Đình B1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng, Huân chương kháng chiến, Huân chương chiến sĩ vẻ vang); bị cáo là lao động chính (đang nuôi mẹ và con đang trong độ tuổi đi học), hoạt động kinh doanh của bị cáo không đủ chi trả tiền thuê mặt bằng, chi phí sinh hoạt gia đình nên dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (động cơ và mục đích phạm tội). Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến thuần phong, mỹ tục, đạo đức xã hội cũng như sức khỏe của con người. Bị cáo buộc phải biết hoạt động mại dâm đang được Nhà nước và nhân dân phòng, chống một cách quyết liệt, là một trong những nguyên nhân lây truyền các căn bệnh xã hội đặc biệt như HIV/AIDS; hành vi chứa mại dâm của bị cáo tạo điều kiện cho hoạt động mại dâm diễn ra. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo được UBND xã nơi cư trú xác nhận đang nuôi mẹ thường xuyên đau ốm và đang trực tiếp nuôi con chưa thành niên đang trong độ tuổi đi học; bị cáo được cho bảo lĩnh tại ngoại để điều trị bệnh tim theo phác đồ của bác sỹ. Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có khả năng có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình; việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù ảnh hưởng nghiêm trọng đến những người đang sinh sống cùng bị cáo. Vì vậy, chưa cần cách ly bị cáo với đời sống xã hội, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
[5]. Đối với hành vi mua bán dâm của anh Hoàng Anh K, Trần Văn S, Trịnh Thị Thảo Q và Quách Thị V đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên không xem xét.
[6]. Về bồi thường thiệt hại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 bao cao su chưa sử dụng; 02 bịch khăn lạnh đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo, 500.000 đồng thu giữ của chị Q và 500.000
đồng thu giữ của chị V liên quan đến hành vi trái pháp luật nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 500.000 đồng của Dương Thị H có được từ hoạt động kinh doanh hợp pháp nên trả lại cho bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp nên chấp nhận.
[8]. Về án phí: bị cáo bị kết án là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 bao cao su chưa sử dụng; 02 bịch khăn lạnh đã qua sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 1.000.000 đồng (một triệu) đồng và 01 điện thoại di động; trả lại cho bị cáo Dương Thị H 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 29/4/2025 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'lấp; giấy nộp tiền mặt vào tài khoản thụ hưởng là Kho bạc nhà nước Đắk R'lấp ngày 26/02/2025).
-
Về bồi thường thiệt hại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Vũ Văn Tuân |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG về chứa mại dâm
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2024, tại cơ sở kinh doanh xông hơi, massage B thuộc thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Dương Thị H có hành vi đồng ý cho Q và V (nhân viên) sử dụng cơ sở massage do H quản lý để làm nơi bán dâm cho khách. Q và V đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục (bán dâm) cho Hoàng Anh K và Trần Văn S thì bị Cơ quan CSĐT đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang
