|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THANH HÓA
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 11 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Tâm và ông Lê Kim Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Hà Quang T, sinh năm 1993 tại: Xã T, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Quang O, sinh năm 1968 và bà Lê Thị H, sinh năm 1969; vợ là Lê Thị H, sinh năm 1996 và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Anh Trương Văn K, sinh năm 1985; trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ, ngày 29/7/2025 Hà Quang T điều khiển xe máy BKS 36B1-163.58 của T đến cửa hàng mua, bán xe máy của anh Hoàng Minh H1, sinh năm 1983 ở thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa để bán xe. Sau khi T bán xe xong, T trên đường đi bộ về nhà, T nhìn thấy 01 chiếc xe máy mang BKS 36B1-965.90, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn đỏ đen bạc, đã qua sử dụng, chìa khóa cắm ở ổ khóa (xe của anh Trương Văn K), đang để trước dãy phòng trọ của ông Nguyễn Văn L ở thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa, T quan sát xung quanh thấy không có người, nên Hà Quang T đi lại chiếc xe máy, vặn chìa khóa xe và nổ máy điều khiển đi về nhà, với mục đích để làm phương tiện đi lại, nhưng sau đó, Hà Quang T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên đến 14 giờ ngày 30/7/2025, Hà Quang T đã đến Công an xã T đầu thú về hành vi phạm tội và nộp chiếc xe máy đã trộm cắp.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe máy Honda, nhãn hiệu Wave S, màu đỏ-đen-bạc, xe đã qua sử dụng, BKS 36B1965.90; 01 video chứa hình ảnh camera ghi lại hình ảnh Hà Quang T liên quan đến vụ trộm cắp ngày 29/7/2025.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐG ngày 01/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân tỉnh T kết luận: 01 chiếc xe máy Honda Wave S màu đỏ-đen-bạc, BKS 36B1-965.90, xe đã qua sử dụng có trị giá 4.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 3379/KT-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa, trích xuất 03 ảnh liên quan đến hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.
Tại Cáo trạng số: 01/CT-VKSKV3 ngày 13/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Thanh Hóa đã truy tố Hà Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Hà Quan T1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu.
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra, bị hại trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Quang T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, và xin được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hà Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 29/7/2025, tại thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo Hà Quang T đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, nên Hà Quang T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda, nhãn hiệu Wave S, màu sơn đỏ-đen-bạc, mang BKS 36B1-965.90 của anh Trương Văn K có giá trị là 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để sử dụng cho mục đíc cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Quang T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Như vậy, Cáo trạng truy tố bị bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của cá nhân.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà thì bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Nhưng HĐXX thấy, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội lần đầu, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, bị cáo có nơi cứ trú rõ ràng, ổn định. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục, vẫn đủ sức răn đe, phòng ngừa và đủ sức đấu tranh phòng chống tội phạm là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là 01 chiếc xe máy; 01 video chứa hình ảnh camera ghi lại hình ảnh Hà Quang T liên quan đến vụ trộm cắp ngày 29/7/2025 được lưu trong hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố, bị cáo Hà Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Hà Quang T 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hà Quang T cho UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 135, Điệu 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hà Quang T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THANH HÓA về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 13 giờ, ngày 29/7/2025 Hà Quang T điều khiển xe máy BKS 36B1-163.58 của T đến cửa hàng mua, bán xe máy của anh Hoàng Minh H1, sinh năm 1983 ở thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa để bán xe. Sau khi T bán xe xong, T trên đường đi bộ về nhà, T nhìn thấy 01 chiếc xe máy mang BKS 36B1-965.90, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn đỏ đen bạc, đã qua sử dụng, chìa khóa cắm ở ổ khóa (xe của anh Trương Văn K), đang để trước dãy phòng trọ của ông Nguyễn Văn L ở thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa, T quan sát xung quanh thấy không có người, nên Hà Quang T đi lại chiếc xe máy, vặn chìa khóa xe và nổ máy điều khiển đi về nhà, với mục đích để làm phương tiện đi lại, nhưng sau đó, Hà Quang T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên đến 14 giờ ngày 30/7/2025, Hà Quang T đã đến Công an xã T đầu thú về hành vi phạm tội và nộp chiếc xe máy đã trộm cắp. Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe máy Honda, nhãn hiệu Wave S, màu đỏ-đen-bạc, xe đã qua sử dụng, BKS 36B1965.90; 01 video chứa hình ảnh camera ghi lại hình ảnh Hà Quang T liên quan đến vụ trộm cắp ngày 29/7/2025. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐG ngày 01/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân tỉnh T kết luận: 01 chiếc xe máy Honda Wave S màu đỏ-đen-bạc, BKS 36B1-965.90, xe đã qua sử dụng có trị giá 4.500.000 đồng
