Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 26-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vùi Văn Tiến và bà Hà Thị Nở

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Toàn và bà Khuất Thị Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Vũ Văn H, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1981, tại huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường Đ, thành phố L; tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ học vấn: 12/12; chức vụ trước khi bị bắt: Trưởng Phòng QLCN Sở Công thương tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Văn H1 (sinh năm 1957) và bà Vũ Thị N (sinh năm 1960). Có vợ là Vũ Thị C, sinh năm 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo là Đảng viên đã bị Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh L thi hành kỷ luật bằng hình thức: Khai trừ; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 20/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
  2. Bị cáo: Nguyễn Thanh N1, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1977, tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường Đ, thành phố L; tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thanh B (sinh 1946) và bà Phan Thị K (sinh năm 1948). Có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1977 và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo là Đảng viên đã bị Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh L thi hành kỷ luật bằng hình thức: Khai trừ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 20/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
  3. Bị cáo: Nguyễn Trọng T, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1981, tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường T, thành phố L; tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ học vấn: 12/12; chức vụ trước khi bị bắt: Phó Giám đốc Sở Công thương tỉnh L; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Trọng B1 (đã chết) và bà Bùi Thị B2 (sinh năm 1954); Có vợ là Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1981 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo là Đảng viên đã bị Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu thi hành kỷ luật bằng hình thức: Khai trừ; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 28/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
  4. Bị cáo: Trần Văn H2, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1985, tại huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm M, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Kỹ sư khai thác mỏ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Trần Văn K1 (sinh năm 1956) và bà Vũ Thị H3 (sinh năm (sinh năm 1965). Có vợ là Đặng Thị D, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 20/8/2024 đến ngày 15/01/2025. Ngày 15/01/2025 cho đến nay bị cáo bị áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  5. Bị cáo: Nguyễn Đình H4, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1967, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường T, thành phố L; tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV H5; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình N2 (đã chết) và bà Hồ Thị L1 (đã chết); Có vợ là Thiều Thị Kim P (sinh năm 1968) và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/6/1997 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'Gra, tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1985 tuyên phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Hiện nay bị cáo đã được xóa án tích; Tại Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305, điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (phạm tội nhiều lần); Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên phạt 11 năm tù về tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Y - Bộ C2.

* Người bào chữa cho bị cáo:

  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình H4: Ông Nguyễn Chí Đ – Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
  • Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn H: Ông Nguyễn Xuân O – Trung tâm tư vấn pháp luật và bảo trợ tư pháp cho người nghèo tỉnh Lai Châu, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L; có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Bản L, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt.

* Người được Toà án triệu tập:

  1. Ông Phạm Hải L2, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ B, phường V, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Hải Q1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số A, ngách B đường B, B, L, Hà Nội; vắng mặt.
  3. Ông Lê Xuân T1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
  4. Ông Hoàng Kiều A, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
  5. Ông Lường Danh V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; có mặt.
  6. Ông Trần Minh C1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường Đ, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
  7. Ông Vàng A Á, sinh năm 1991; Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Nghị định số 71/2018/NĐ-CP, quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ (viết tắt là Nghị định 71), các doanh nghiệp được phép tổ chức lớp huấn luyện kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp (viết tắt là VLNCN) đối với các đối tượng là chỉ huy nổ mìn, người phục vụ, người áp tải, điều khiển phương tiện vận chuyển VLNCN. Sau đó, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị Sở C tổ chức kiểm tra và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN theo quy định.

Theo chức năng, nhiệm phụ, Phòng Quản lý công nghiệp (viết tắt là Phòng QLCN) thuộc Sở Công Thương tỉnh L có nhiệm vụ tham mưa cho Lãnh đạo Sở Công thương các nội dung liên quan đến VLNCN, trong đó có nhiệm vụ giám sát việc tổ chức lớp huấn luyện của doanh nghiệp; tiếp nhận hồ sơ để tham mưu tổ chức kiểm tra, cấp chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN cho các cá nhân đã tham gia huấn luyện do doanh nghiệp tổ chức. Bị cáo Nguyễn Trọng T – Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh L (nguyên Trưởng Phòng QLCN giai đoạn 2018 đến tháng 11/2021) và bị cáo Vũ Văn H – Trưởng Phòng QLCN giai đoạn tháng 11/2021 đến tháng 6/2024) có trách nhiệm phụ trách chung, điều hành mọi hoạt động của Phòng QLCN; bị cáo Nguyễn Thanh N1 - Chuyên viên được giao nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo Phòng QLCN các nội dung liên quan đến VLNCN, trong đó có nội dung: đại diện Phòng QLCN giám sát việc tổ chức huấn luyện của các doanh nghiệp, tham mưu về tiếp nhận, tổ chức kiểm tra, cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, khi các doanh nghiệp có nhu cầu huấn luyện an toàn VLNCN thì các bị cáo T, H, hoặc Nghị thông báo trên nhóm Zalo nội dung (gồm có các bị cáo và đại diện các doanh nghiệp liên quan đến VLNCN trên địa bàn tỉnh Lai Châu) để các doanh nghiệp nộp hồ sơ cho bị cáo Nguyễn Đình H4 – Giám đốc Công ty TNHH MTV H5 và sau này là Trần Văn H2 – nhân viên Công ty cổ phần Đ1. Các bị cáo H4, H2 đứng ra tiếp nhận hồ sơ, thuê hội trường, giảng viên tổ chức huấn luyện, mời đại diện Phòng QLCN đến giám sát. Sau mỗi đợt huấn luyện các bị cáo H4, H2 lập hồ sơ đề nghị Sở C tổ chức kiểm tra, cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN.

Trong quá trình tổ chức lớp huấn luyện, các bị cáo H4, H2 đều thu của các học viên tham gia huấn luyện với số tiền dao động từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng/người (tùy thuộc trường hợp huấn luyện lần đầu hoặc huấn luyện lại) để chi phí phục vụ lớp huấn luyện như thuê giảng viên, in ấn tài liệu, thuê hội trường, ăn uống, ... Sau khi kết thúc mỗi lớp huấn luyện và trừ chi phí, số tiền còn lại các bị cáo H4, H2 hưởng lợi một phần, phần tiền còn lại các bị cáo nhiều lần đưa hối lộ cho bị cáo T (giai đoạn T làm Trưởng Phòng QLCN), H (giai đoạn H làm Trưởng Phòng QLCN). Việc đưa, nhận hối lộ được các bị cáo thực hiện nhiều lần và đều đặn theo dạng “thông lệ” - sau khi kết thúc mỗi lớp huấn luyện để nhằm mục đích được tạo điều kiện bỏ qua thiếu sót, sai phạm trong quá trình huấn luyện. Các bị cáo N1, T, H biết rõ quá trình huấn luyện không đảm bảo theo quy định như: Thời gian huấn luyện chỉ thực hiện trong một buổi sáng, không đảm bảo theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định 71; các đối tượng khác nhau nhưng lại huấn luyện trong cùng một lớp, cùng một thời gian, ... nhưng vì biết sau mỗi lớp huấn luyện sẽ được các bị cáo H4, H2 cảm ơn bằng tiền, nên các bị cáo không báo cáo Lãnh đạo Sở Công thương về sai phạm trên, mà vẫn tham mưu cho Lãnh đạo Sở C tổ chức kiểm tra, cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN, theo đó:

Từ tháng 8/2018 đến tháng 11/2021, bị cáo H4 đã tổ chức 11 lớp huấn luyện với 360 học viên tham gia. Trong 11 lần tổ chức lớp huấn luyện, H4 đều thu của các học viên từ 2.000.000 đồng/người đến 3.500.000 đồng/người, sau khi trừ chi phí phục vụ lớp huấn luyện, H4 11 lần đưa hối lộ cho T với tổng số tiền 330.000.000 đồng, mỗi lần đưa tiền đều trên 2.000.000 đồng và tại nhiều địa điểm khác nhau (như: ở nhà H4, ở các quán cà phê trên địa bàn thành phố L). Sau khi nhận hối lộ từ bị cáo H4, T tự dựa theo nhiệm vụ được giao có liên quan của N1 rồi chia một phần tiền nhận hối lộ cho N1, tổng 11 lần với tổng số tiền 50.000.000 đồng, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng. Nghị mặc dù không bàn bạc với T về số tiền các bị cáo nhận hối lộ, nhưng biết rõ nguồn gốc tiền bị cáo T đưa cho mình là của các doanh nghiệp, cá nhân đưa vì các bị cáo N1, T đã tạo điều kiện bỏ qua sai phạm trọng quá trình huấn luyện an toàn VLNCN.

Từ đầu năm 2022 đến tháng 6 năm 2023 (giai đoạn Vũ Văn H là Trưởng Phòng QLCN), Công ty TNHH MTV H5 do Nguyễn Đình H4 làm giám đốc tổ chức 07 lớp huấn luyện an toàn VLNCN với 308 học viên tham gia. Trong 07 lần tổ chức lớp huấn luyện, H4 thu tiền của các học viên từ 2.000.000 đồng/ người đến 3.500.000 đồng/ người. Sau đó, H4 07 lần đưa hối lộ cho H, tại nhiều địa điểm khác nhau (như: ngoài đường hoặc khu vực Q tỉnh Lai Châu) với tổng số tiên 350.000.000 đồng, mỗi lần đưa tiền đều trên 2.000.000 đồng.

Đến tháng 11/2023 Nguyễn Đình H4 bị bắt, khởi tố trong một vụ án khác, nên bị cáo Trần Văn H2 là nhân viên của Công ty cổ phần Đ1 đã báo cáo với ông Phạm Hải L2 – Chủ tịch Hội đồng quản trị, ông Nguyễn Hải Q1 – Giám đốc Công ty cổ phần Đ1 để Công ty đứng ra tổ chức các lớp huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN. Cũng với cách làm tương tự như Nguyễn Đình H4 đã thực hiện, H2 tổ chức 04 lớp huấn luyện cho 200 học viên và thu được tổng số tiền 510.000.000 đồng. H2 sử dụng một phần để chi phí mở lớp, một phần cá nhân hưởng lợi và 04 lần đưa hối lộ cho H, với tổng số tiền 220.000.000 đồng.

Về số tiền 570.000.000 đồng đã nhận được từ các bị cáo H4, H2, bị cáo Vũ Văn H chia một phần tiền nhận hối lộ cho bị cáo Nguyễn Thanh N1. Mặc dù không bàn bạc trước với H trong việc nhận tiền hối lộ, cũng không biết bị cáo H nhận được bao nhiêu tiền, nhưng bị cáo Nguyễn Thanh N1 biết rõ nguồn gốc tiền bị cáo H đưa là của các doanh nghiệp, cá nhân đưa vì bị cáo N1 và H đã tạo điều kiện bỏ qua sai phạm trong quá trình huấn luyện an toàn VLNCN.

Ngày 20/8/2024, bị cáo Trần Văn H2 đến Cơ quan điều tra tự thú về hành vi phạm tội và giao nộp số tiền 140.000.000 đổng, lần lượt sau đó các bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Thanh N1 cũng đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội và giao nộp số tiền do phạm tội mà có (Nghị giao nộp 110.000.000 đồng, H giao nộp 352.000.000 đồng). Đối với Nguyễn Trọng T sau khi bị triệu tập làm việc tự giác giao nộp số tiền 150.000.000 đồng do phạm tội mà có.

Bản cáo trạng số: 22/CT-VKSLC-P1 ngày 14/4/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố:

  • Bị cáo Nguyễn Đình H4 về tội “Đưa hối lộ” quy định tại khoản 3, Điều 364 của Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Trần Văn H2 về tội “Đưa hối lộ” quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 364 của Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Vũ Văn H về tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 354 của Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thanh N1 cùng về tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đều nhất trí như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo Nguyễn Đình H4 thừa nhận có đưa tiền tổ chức các lớp học cho bị cáo T, H, bị cáo không nhớ rõ số tiền, địa điểm đưa tiền do thời gian đã lâu, bị cáo không nhớ rõ. Nhưng bị cáo cho rằng bị cáo không được hưởng lợi gì từ việc tổ chức các lớp học huấn luyện an toàn vật liệu nổ, bị cáo không biết quy định tại Nghị định 71 của Chính phủ nên không biết trong quá trình tổ chức lớp học có điểm gì không đúng với quy định. Bị cáo nhận thức việc đi học phải nộp tiền nên sau khi thu tiền của các học viên tham gia các lớp học, bị cáo đều đưa lại cho bị cáo T, H. Bị cáo không giữ lại tiền cho bị cáo, bản thân bị cáo khi tham gia các lớp huấn luyện này cũng nộp tiền. Bị cáo được bị cáo T đưa tiền một lần là 3.000.000 đồng. Trong lời tự bào chữa cho mình, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đưa hối lộ và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, để bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H4 về tội “Đưa hối lộ” quy định tại khoản 3, Điều 364 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Văn H2 về tội “Đưa hối lộ” quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 364 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Vũ Văn H về tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 354 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thanh N1 cùng về tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

+ Về hình phạt chính:

  • Đối với bị cáo Nguyễn Đình H4 : Áp dụng khoản 3 Điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 07 năm - 08 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 11 năm tù của Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023 là ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam theo Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
  • Đối với bị cáo Trần Văn H2: Áp dụng điểm đ, e khoản 2, Điều 364, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt 02 năm - 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Giao bị cáo cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Nam Định quản lý, giám sát trong thời gian chấp hành án.
  • Đối với bị cáo Vũ Văn H: Áp dụng điểm a khoản 3, Điều 354, điểm b, v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 07 năm - 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2024.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Trọng T Áp dụng điểm c, đ khoản 2, Điều 354, điểm b, v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2024.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N1: Áp dụng điểm c, đ khoản 2, Điều 354, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt 02 năm đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2024.

+ Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 354 BLHS; khoản 5, Điều 364 BLHS:

  • Đối với bị cáo Vũ Văn H: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hoạt động vật liệu nổ 02 - 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Phạt bị cáo 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Trọng T: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hoạt động vật liệu nổ 02 - 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Phạt bị cáo 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N1: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hoạt động vật liệu nổ 01 năm - 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Phạt bị cáo 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Phạt bị cáo Trần Văn H2 từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  • Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Đình H4.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đối với số tiền 460.000.000 đồng bị cáo Vũ Văn H giao nộp; Số tiền 280.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Trọng T giao nộp; Số tiền 160.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thanh N1 giao nộp; Số tiền 12.000.000 đồng chị Nguyễn Thị Thùy D1 giao nộp, đây là tiền các bị cáo nhận hối lội mà có do đó cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đối với số tiền 140.000.000 đồng bị cáo Trần Văn H2 giao nộp, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H2.
  • Đối với vật chứng là 290 bản gốc giấy chứng nhận kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp do Sở Công thương tỉnh L cấp từ thời gian tháng 01/2023 đến tháng 01/2024 kèm theo quyết định thu hồi và giấy tờ, tài liệu thu giữ tại nơi ở của bị cáo Trần Văn H2 đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

- Án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do đó mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Văn H phát biểu quan điểm bào chữa: Không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình H4 phát biểu quan điểm bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn.

Bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Đình H4 nhất trí với lời bào chữa của các luật sư bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thùy D1 trong quá trình điều tra và theo đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai nhận: khi nhận 97.000.000 đồng từ bị cáo T, H thì bà D1 không biết số tiền này do T, H nhận hối lộ mà có. Số tiền này được bà D1 công khai chi tiêu cho công việc chung của Phòng QLCN như thăm hỏi ốm đau, liên hoan tiếp khách,... Số tiền còn lại là 12.000.000 bà D1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, hối hận về hành vi mà mình đã thực hiện, có ý kiến xin lỗi Sở Công thương tỉnh L vì những việc làm sai trái của bản thân mà ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan, đơn vị và xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo và các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2024, tại địa bàn thành phố L, tỉnh Lai Châu, bị cáo Nguyễn Đình H4 – Giám đốc Công ty TNHH MTV H5 và bị cáo Trần Văn H2 – nhân viên Công ty TNHH MTV Đ1, với mục đích được tạo điều kiện, bỏ qua sai phạm trong quá trình mở lớp huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN, đã nhiều lần đưa hối lộ cho các cá nhân có chức vụ quyền hạn tại Sở Công thương tỉnh L với tổng số tiền 900.000.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Đình H4 18 lần đưa hối lộ với tổng số tiền 680.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn H2 04 lần đưa hối lộ với tổng số tiền 220.000.000 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Trọng T, Vũ Văn H, Nguyễn Thanh N1 là những người có chức vụ, quyền hạn tại Sở Công thương tỉnh L, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhiều lần trực tiếp nhận hối lộ với tổng số tiền 900.000.000 đồng để bỏ qua sai phạm trong quá trình tổ chức huấn luyện, kiểm tra và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN. Trong đó bị cáo T 11 lần nhận hối lộ với tổng số tiền 330.000.000 đồng từ bị cáo H4; bị cáo H 11 lần nhận hối lộ với tổng số tiền 570.000.000 đồng (07 lần nhận hối lộ với tổng số tiền 350.000.000 đồng từ bị cáo H4 và 04 lần nhận hối lộ với tổng số tiền 220.000.000 đồng từ bị cáo H2); bị cáo Nguyễn Thanh N1 22 lần nhận hối lộ với tổng số tiền 160.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Văn H2, Nguyễn Đình H4, Vũ Văn H, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Trọng T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, cụ thể là hoạt động quản lý Nhà nước về huấn luyện, kiểm tra, cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN của Sở Công Thương tỉnh L, làm mất uy tín, giảm niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Ý thức được điều đó, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Đình H4 phạm tội “Đưa hối lộ” quy định tại khoản 3, Điều 364 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn H2 phạm tội “Đưa hối lộ” quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 364 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 354 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thanh N1 cùng phạm tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Do đó quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ pháp lý, phù hợp với nhân thân của các bị cáo, nên được chấp nhận. Đối với đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H. Xét thấy ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh, phục vụ tốt công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm về tham nhũng, chức vụ. Bị cáo có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nên quan điểm này không được chấp nhận.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Đình H4, mặc dù tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi đưa tiền khi tổ chức các lớp huấn luyện an toàn vật liệu nổ công nghiệp là hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đưa hối lộ. Nhưng vẫn khai báo toàn bộ diễn biến hành vi nhận tiền của các học viên tham gia các lớp huấn luyện, đưa tiền cho T, H. Việc không thừa nhận phạm tội đưa hối lộ là do không hiểu rõ quy định của pháp luật. Bị cáo thừa nhận các lời khai trong quá trình điều tra là khách quan, bị cáo tự nguyện khai nhận. Tại lời tự bào chữa, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm đưa tiền cho các bị cáo H, T là phạm tội đưa hối lộ. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Nên Hội đồng xét xử vẫn cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Vũ Văn H đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền được lợi từ hành vi phạm tội là 460.000.000 đồng; quá trình công tác có nhiều thành tích xuất sắc, nhiều lần được Chỉ tịch UBND tỉnh L, Bộ C3, Công đoàn Việt Nam tặng Bằng khen, được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua tỉnh Lai Châu. Bị cáo đã ra đầu thú tại Cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là Vũ Văn T2 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì và vợ là Vũ Thị C nhiều lần được Chủ tịch UBND tỉnh L và Bộ trưởng Bộ T4 khen thưởng. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình sự theo quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Trọng T đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền được lợi từ hành vi phạm tội là 280.000.000 đồng; quá trình công tác tại Sở Công thương tỉnh L bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc, nhiều lần được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ C3, Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen, danh hiệu Chiến sỹ thi đua tỉnh Lai Châu, Chiến sỹ thi đua cơ sở. Bên cạnh đó bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Trọng B1 được Hội đồng Bộ trưởng N4 tặng Huy chương kháng chiến hạng ba. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình sự theo quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N1 đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền được lợi từ hành vi phạm tội là 160.000.000 đồng; trong quá trình công tác có nhiều thành tích, được Giám đốc Sở Công thương tặng thưởng nhiều giấy khen, nhiều năm được công nhận là lao động tiên tiến và có nhân thân là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, được công nhận là bệnh binh. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Trần Văn H2 đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tự thú trước Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ án. Tự nguyện nộp lại số tiền 140.000.000 đồng được hưởng lợi từ việc đứng ra mở các lới huấn luyện an toàn vật liệu nổ công nghiệp. Bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng. Trong quá trình lao động sản xuất, bị cáo được Chủ tịch công đoàn Công ty Đ2 tặng giấy khen. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình sự theo quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn H2, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thanh N1 thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với số tiền mỗi lần trên 2.000.000 đồng, tuy nhiên đây là tình tiết định khung trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, nên không phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.

Các bị cáo Nguyễn Đình H4 và Vũ Văn H thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với số tiền mỗi lần trên 2.000.000 đồng, nhưng không thuộc tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Thanh N1 không được bàn bạc trước với các bị cáo Nguyễn Trọng T, Vũ Văn H về tổng số tiền nhận hối lộ, không biết số tiền các bị cáo T, H nhận được là bao nhiêu và sử dụng như thế nào, mà chỉ biết và nhận số tiền hối lộ được T, H đưa cho mình. Do đó bị cáo N1 đồng phạm với Nguyễn Trọng T trong việc nhận hối lộ số tiền 50.000.000 đồng; đồng phạm với bị cáo H trong việc nhận số tiền hối lộ 110.000.000 đồng. Các bị cáo T, H giữ vai trò chính trong việc nhận hối lộ.

- Về nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Đình H4 có nhân thân không tốt. Ngày 20/6/1997 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cư M' Gar, tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1985, tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo đã được xóa án tích. Tại Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Điều 38 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên phạt 11 năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.

Hội đồng xét xử xét thấy bản thân các bị cáo khác trong vụ án đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo H, T có 03 tình tiết, bị cáo N1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo H, N1, T hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trần Văn H2, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, trong đó có tình tiết “tự thú” do bị cáo đã tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình và của các bị cáo khác trong vụ án, trong khi chưa ai phát hiện được bị cáo và các bị cáo khác phạm tội. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để trừng phạt, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời phục vụ tốt công tác đấu tranh phòng ngừa chống tội phạm nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng, đồng thời động viên, khuyến khích người đã thực hiện hành vi phạm tội tự thú trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Để tăng cường, củng cố tác dụng của hình phạt chính trong việc giáo dục, cải tạo các bị cáo, HĐXX cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 354 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo H, N1, T: xử phạt bị cáo H 40.000.000 đồng, xử phạt bị cáo T 35.000.000 đồng, xử phạt bị cáo 30.000.000 đồng. Cấm bị cáo H, N1, T đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Nhà nước, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong toàn bộ bản án này; áp dụng khoản 5 Điều 364 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H2 10.000.000 đồng, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo H4.

[4] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 460.000.000 đồng bị cáo Vũ Văn H giao nộp; Số tiền 280.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Trọng T giao nộp; Số tiền 160.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thanh N1 giao nộp, khắc phục hậu quả. Tịch thu số tiền 12 triệu đồng chị Nguyễn Thị Thùy D1 giao nộp là tiền do các bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Trọng T phạm tội mà có.
  • Trả lại cho bị cáo H2 140.000.000 đồng.
  • Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: Đối với giấy tờ, tài liệu thu giữ tại nơi ở của bị cáo Trần Văn H2 và 290 bản gốc giấy chứng nhận kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp do Sở Công thương tỉnh L cấp từ thời gian tháng 01/2023 đến tháng 01/2024 kèm theo quyết định thu hồi.

[5] Về án phí hình sự: Áp dụng quy định tại điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm .

Về các nội dung liên quan đến vụ án:

  • Theo lời khai của các bị cáo T, H: Sau khi nhận tiền từ H4, H2 thì T, H có đưa tiền cho một số cá nhân tại Sở Công thương tỉnh L như: đưa ông Lê Xuân T1 - Phó Giám đốc; ông Hoàng Kiều A – nguyên Phó Giám đốc; ông Lường Danh V – chuyên viên. Kết quả điều tra xác định ngoài lời khai duy nhất của các bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh các cá nhân nêu trên nhận tiền như các bị cáo khai báo, do đó không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.
  • Đối với Nguyễn Thị Thùy D1, chuyên viên Phòng Quản lý công nghiệp được T, N1 nhiều lần đưa với tổng số tiền là 97.000.000 đồng để sử dụng chi tiêu các hoạt động chung của Phòng Quản lý công nghiệp. Kết quả điều tra xác định: khi nhận tiền của các bị cáo, D1 không biết được số tiền này do các bị cáo nhận hối lộ mà có, D1 không tư lợi cá nhân và đã sử dụng số tiền trên phục vụ hoạt động chung của đơn vị như: chi thăm hỏi ốm đau, chi liên hoan tiếp khách, ... Sau khi được Cơ quan điều tra triệu tập làm việc, D1 mới biết được số tiền các bị cáo đưa là do phạm tội mà có, đồng thời giao nộp số tiền còn lại là 12.000.000 đồng. Do đó, việc không xử lý đối với D1 là có căn cứ.
  • Đối với Phạm Hải L2, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Nguyễn Hải Q1- Giám đốc Công ty cổ phần Đ1. Kết quả điều tra xác định các cá nhân này đồng ý để bị cáo Trần Văn H2 sử dụng pháp nhân Công ty Đ1 tổ chức các lớp huấn luyện an toàn vật liệu nổ công nghiệp, tuy nhiên cả hai không biết và không bàn bạc, không hưởng lợi từ việc bị cáo H2 thu tiền của các học viên và đưa hối lộ cho các cá nhân có thẩm quyền tại Sở C. Do đó, không đề cập xử lý hình sự đối với Phạm Hải L2, Nguyễn Hải Q1 là có căn cứ.
  • Đối với các tổ chức, cá nhân tham gia các lớp huấn luyện an toàn vật liệu nổ đã nộp tiền cho các bị cáo H4, H2. Kết quả điều tra xác định các tổ chức, cá nhân này nộp tiền cho H4, H2 để chi phí phục vụ lớp huấn luyện, không có mục đích và không biết việc các bị cáo H4, H2 sử dụng tiền để đưa hối lộ cho các cá nhân có thẩm quyền tại Sở Công thương tỉnh L. Do đó không xử lý là có căn cứ.
  • Đối với việc H4, H2 thu tiền của các doanh nghiệp, cá nhân có học viên tham gia huấn luyện an toàn vật liệu nổ công nghiệp, sau đó hưởng lợi cá nhân. Kết quả điều tra xác định đây là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp cá nhân tham gia lớp huấn luyện với các cá nhân, tổ chức mở lớp huấn luyện. Pháp luật không có quy định về việc cấm các doanh nghiệp thu tiền, hưởng lợi khi tổ chức lớp huấn luyện, nên không có căn cứ xử lý đối với H4, H2 trong việc thu tiền, hưởng lợi.
  • Đối với ông Hoàng Kiều A, N3 Phó Giám đốc, ông Lê Xuân T1, Phó Giám đốc Sở C là Lãnh đạo Sở Công thương được phân công trực tiếp lãnh, chỉ đạo lĩnh vực an toàn vật liệu nổ công nghiệp (trong đó có nội dung huấn luyện, kiểm tra, cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp). Kết quả điều tra xác định mặc dù quá trình huấn luyện có sai phạm nhưng các bị cáo T, H, N1 đã không báo cáo về các sai phạm, rồi hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đảm bảo theo quy định rồi trình lãnh đạo Sở C là ông Hoàng Kiều A, Lê Xuân T1 ký cấp giấy chứng nhận, nên ông Hoàng Kiều A, Lê Xuân T1 không biết hành vi phạm tội của cấp dưới. Do vậy, không đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Hoàng Kiều A, Lê Xuân T1.
  • Quá trình kiểm tra, rà soát đối với hồ sơ của các học viên nộp để cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp xác định có 125 bằng cấp (gồm bằng THPT, Trung cấp, T3 nghề, Cao đẳng, Đại học) nghi vấn là bằng giả. Để đảm bảo tiến độ giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi theo quyết định số 178, ngày 03/3/2025, hiện đang thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật, nên không đề cập xem xét, xử lý trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố:

  • Bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 354 của Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thanh N1 cùng phạm tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Đình H4 phạm tội “Đưa hối lộ” quy định tại khoản 3, Điều 364 của Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Trần Văn H2 phạm tội “Đưa hối lộ” quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 364 của Bộ luật Hình sự;

2/ Về hình phạt:

  • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 354, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn H 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (20/8/2024).
  • Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 354, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 28/8/2024);
  • Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 354, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N1 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/8/2024);
  • Áp dụng khoản 3 Điều 354, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H4 07 năm tù.

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 07 năm tù của bản án này, với hình phạt 11 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. Thời gian phạt tù bị cáo H4 phải thi hành là 18 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023 là ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam theo Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

  • Áp dụng điểm đ, e khoản 2, Điều 364, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn H2 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 04 năm, tính từ ngày tuyên án ngày 26/6/2025. Giao bị cáo cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Nam Định quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

3/ Về hình phạt bổ sung:

  • Áp dụng khoản 5 Điều 354 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Trọng T: xử phạt bị cáo Vũ Văn H 40.000.000 đồng, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 35.000.000 đồng, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N1 30.000.000 đồng. Cấm bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Trọng T đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Nhà nước, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; Cấm bị cáo Nguyễn Thanh N1 đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý hoạt động vật liệu nổ trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
  • Áp dụng khoản 5 Điều 364 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H2 10.000.000 đồng, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H4.

4/ Về vật chứng:

Căn cứ các Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 460.000.000 đồng bị cáo Vũ Văn H giao nộp; Số tiền 280.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Trọng T giao nộp; Số tiền 160.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thanh N1 giao nộp, khắc phục hậu quả. Tịch thu số tiền 12 triệu đồng chị Nguyễn Thị Thùy D1 giao nộp là tiền do các bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Trọng T phạm tội mà có.
  • Trả lại cho bị cáo Trần Văn H2: Số tiền 140.000.000 đồng.
  • Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: Đối với giấy tờ, tài liệu thu giữ tại nơi ở của bị cáo Trần Văn H2 và 290 bản gốc giấy chứng nhận kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp do Sở Công thương tỉnh L cấp từ thời gian tháng 01/2023 đến tháng 01/2024 kèm theo quyết định thu hồi.

5/ Án phí

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Các bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Trọng T, Trần Văn H2, Nguyễn Đình H4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- Toà Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;

- VKSND tỉnh Lai Châu;

- Công an tỉnh Lai Châu;

- Cục THADS tỉnh Lai Châu;

- Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu;

- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lai Châu (PV06);

- Bị cáo; Người bào chữa;

- Người có QLNVLQ;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Hằng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (đưa hối lộ, nhận hối lộ)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đưa hối lộ, Nhận hối lộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger