Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 26 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đinh Tấn Long.

Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sang;

Ông Nguyễn Quốc Vương;

Bà Phan Thị Thanh Sen.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Ung Thị Thanh Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Tấn H, sinh ngày 10/12/1984, tại huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: làm đá Granic; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Huỳnh Tấn S, sinh năm 1952 và bà Hứa Thị N, sinh năm 1958; có vợ là Lê Thị H1, sinh năm 1986 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Năm 2003, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt tù có thời hạn 09 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 83 ngày 26/11/2003).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tấn H theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Trần Văn M - Văn phòng Luật sư Đào Duy K, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Thôn N, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho Hội đồng xét xử.

* Bị hại:

Ông Huỳnh Trường L, sinh năm 1982 và bà Hà Thị Kim T, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

Ông Nguyễn Hà T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn M, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Kiều Văn V, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T là chủ sở hữu thửa đất số 754 tờ bản đồ số 9 có diện tích 196 m² tại D, D, có Giấy chứng nhận QSDĐ số CX707081 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 21/10/2020. Huỳnh Tấn H em ruột ông Huỳnh Trường L, là người hiểu biết về các hồ sơ thủ tục đất đai nên được ông L tin tưởng giao lo giúp các thủ tục để được đền bù tái định cư đất cho vợ chồng ông L. Khi ông L giao cho H lo hết thủ tục để được tái định cư, để thuận lợi thì H có đề nghị ông L ký trước cho H một số giấy tờ để thuận tiện làm thủ tục khi cần. Sau khi H hoàn tất các thủ tục và trực tiếp đại diện chủ hộ thực hiện việc kiểm đếm tài sản, bốc thăm đất tái định cư. Lúc này, do cần tiền để giải quyết việc cá nhân, H nảy sinh ý định sẽ chiếm đoạt tiền và đất của vợ chồng ông L, H đã ghi nội dung vào Giấy uỷ quyền được UBND xã D chứng thực vào ngày 20/10/2021, trong đó có nội dung ông Huỳnh Trường L uỷ quyền cho H nhận tiền đền bù hỗ trợ tái định cư (Giấy uỷ quyền này được ông L ký trước, còn nội dung uỷ quyền được H ghi vào sau). Sau khi H nhận tiền đền bù 1.015.298.309 đồng và bốc thăm được lô đất A26-15 khu tái định cư, H đều không thông báo cho vợ chồng ông L biết việc này mà đã thoả thuận bán thửa đất cho anh Kiều Văn V với giá 2,2 tỷ đồng, sau đó H nhận tiền cọc 01 tỷ đồng và tiêu xài. Để vợ chồng ông L ký vào hợp đồng chuyển nhượng lô đất trên vào ngày 26/01/2022, H đã nói dối với vợ chồng ông L việc ký giấy tờ để lo thủ tục đền bù, tin tưởng H nên vợ chồng ông L đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho V mà thực tế không biết đây là chuyển nhượng thửa đất được đền bù. Đến ngày 28/3/2022, sau khi lô đất A26-15 được sang tên cho Kiều Văn V, H nhận đủ số tiền bán đất từ V. Số tiền bán đất có được cùng với tiền nhận đền bù 1.015.298.309 đồng, H chiếm đoạt sử dụng tiêu xài và trả nợ hết.

Đến tháng 8/2022, Huỳnh Tấn H liên hệ Nguyễn Hà T1 để vay tiền, T1 yêu cầu phải có giấy tờ đất hoặc tài sản khác để cầm cố làm tin cho T1. Huỳnh Tấn H tiếp tục đặt vấn đề nhờ vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T cho H mượn Giấy chứng nhận QSDĐ Số 754 nêu trên để H cầm cố vay tiền của T1 và được vợ chồng ông L đồng ý. Khi mượn Giấy chứng nhận QSDĐ, H có viết một giấy mượn sổ đỏ đưa cho ông L, bà T cất giữ. Sau khi có Giấy chứng nhận QSDĐ trên, H gặp T1 để vay số tiền 600.000.000 đồng và được vợ chồng ông T1 đồng ý, nhưng T1 yêu cầu phải làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho T1 để làm tin chứ không nhằm bán nên H và ông L đồng ý. Ngày 08/8/2022, H cùng vợ chồng ông L, ông Nguyễn Hà T1 cùng với công chứng viên Nguyễn Thị Mỹ K1 uống cà phê tại quán S1 thuộc thị trấn N, D. Tại đây T1 đưa cho H vay số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) tiền mặt, các bên cùng ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên từ vợ chồng ông L sang cho T1, đồng thời đưa Giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất này cho T1 cất giữ.

Sau nhiều lần T1 yêu cầu H trả nợ nhưng H không có khả năng trả; ngày 22/02/2023, T1 mang hồ sơ chuyển nhượng thửa đất trên đến phòng địa chính xã D, huyện D để đăng ký thủ tục sang tên chuyển nhượng qua cho mình nhưng không được do thửa đất đã được giải tỏa đền bù.

* Kết quả xác minh tại Phòng Tài nguyên và môi trường huyện D xác định: Thực hiện dự án khu nghĩ dưỡng Nam H, thửa đất số 754, tờ bản đồ số 9, có diện tích 196 m² tại thôn T, D, D, có Giấy chứng nhận QSDĐ số CX707081 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 21/10/2020 của hộ ông Huỳnh Trường L - Hà Thị Kim T đã có Quyết định thu hồi đất số 2333/QĐ-UBND ngày 02/4/2021, được bồi thường, hỗ trợ tái định cư số tiền 1.015.298.309 đồng và hỗ trợ tái định cư một lô đất số A26-15 theo Quyết định số 2337 ngày 02/4/2021 của UBND huyện D. Ngày 20/10/2021, Trung tâm P đã thực hiện việc chi trả bồi thường số tiền trên do Huỳnh Tấn H nhận theo uỷ quyền của Huỳnh Trường L. Tuy nhiên Trung tâm phát triển quỹ đất Quảng Nam đã không thu hồi Giấy chứng nhận QSDĐ nêu trên của công dân.

Đối với thửa đất số A26-15 đền bù cho vợ chồng ông L, đã được chuyển nhượng cho ông Kiều Văn V, sinh năm 1992, trú tại Duy N1, D theo Hợp đồng chuyển nhượng ký vào ngày 26/01/2022, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D xác nhận chuyển nhượng vào ngày 28/3/2022.

Đối với số tiền được nhà nước đền bù là 1.015.298.309 đồng (Một tỷ, không trăm mười lăm triệu, hai trăm chín mươi tám ngàn, ba trăm lẻ chín đồng): Huỳnh Tấn H và Huỳnh Trường L xác định thửa đất là của Huỳnh Trường L, còn các vật kiến trúc trên đất (nhà trọ) là do H xây lên trước đây. Trong đó, số tiền bồi thường về đất là 65.660.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi ngàn đồng), còn lại là bồi thường, hỗ trợ liên quan đến vật, kiến trúc. Do đó, vợ chồng Huỳnh Trường L xác nhận mình chỉ được hưởng 65.660.000 đồng trong tổng số tiền được đền bù.

* Kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản:

- Tại Bản kết luận giám định số 178/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q xác định: Chữ ký, chữ viết họ tên Huỳnh Trường L trên tài liệu “Biên bản kiểm đếm hiện trạng đất đai, tài sản bị ảnh hưởng thuộc phạm vi giải phóng mặt bằng dự án khu nghĩ dưỡng Nam Hội An” và “Biên bản bốc thăm đất tái định cư” với tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người ký, viết ra (tức là không phải do Huỳnh Trường L ký, viết ra). Chữ ký, chữ viết họ tên Huỳnh Trường L trên tài liệu “Giấy uỷ quyền” đề ngày 19/10/2021 so với tài liệu là mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra (tức là do Huỳnh Trường L ký, viết ra).

- Tại Bản kết luận giám định số 559/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q xác định: chữ ký, chữ viết họ tên Huỳnh Trường L và Hà Thị Kim T trên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đề ngày 26/01/2022 là do L và T ký, viết ra.

- Tại Kết luận định giá tài sản số 3864/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Nam xác định: Thửa đất số 15-A26 tờ bản đồ QH04 tại Khu tái định cư ven biển D(giai đoạn 3), xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam, diện tích 200 m², tại thời điểm ngày 26/01/2022, theo đơn giá đất do UBND tỉnh quy định tại Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 là 3.440.000đ/m². Giá trị thửa đất là 688.000.000 đồng (Sáu trăm tám mươi tám triệu đồng).

Quá trình điều tra, Huỳnh Tấn H khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Bị cáo Huỳnh Tấn H đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt 600.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Hà T1; đối với bị hại ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T đã tự thỏa thuận giải quyết về trách nhiệm dân sự với bị cáo và không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSQN-P2 ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Huỳnh Tấn H, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tấn H gửi luận cứ bào chữa: Nguyên nhân bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là do buôn bán nợ nần, do ảnh hưởng của dịch Covid nên túng quẫn, thiếu hiểu biết pháp luật đâm ra tâm lý liều lĩnh, gian dối cả người thân để chiếm đoạt tài sản. Về tội danh và khung hình phạt áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố và luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ. Bị cáo Huỳnh Tấn H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình khắc phục hậu quả toàn bộ cho các bị hại; gia đình của bị cáo có người tham gia cách mạng; bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế; gia đình khó khăn; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tấn H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Trần Văn M có đơn xin vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho Hội đồng xét xử, bị cáo Huỳnh Tấn H đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa nên Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tấn H khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Mặc dù biết rõ thửa đất số 754, tờ bản đồ số 9, diện tích 196 m² tại xã D, huyện D do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số CX707081 ngày 21/10/2020 cho vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T đã được Nhà nước thu hồi và đền bù, hỗ trợ tái định cư thửa đất mới vào năm 2021. Tuy nhiên, do cần tiền trả nợ và tiêu xài, lợi dụng việc vợ chồng ông Huỳnh Trường L không biết việc này và vẫn đang cất giữ Giấy chứng nhận QSDĐ trên, Huỳnh Tấn H đã mượn Giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất từ vợ chồng ông L, bà T, gian dối đem cầm cố cho Nguyễn Hà T1 (thông qua việc lập hợp đồng chuyển nhượng) để vay số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) vào ngày 08/8/2022 rồi chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân.

Đồng thời, trước đó Huỳnh Tấn H được vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T tin tưởng giao cho H thực hiện các thủ tục để vợ chồng L được nhận đền bù tiền và hổ trợ đất tái định cư ở khu mới. Tuy nhiên, do cần tiền để trả nợ, H đã gian dối với vợ chồng ông L, bà T để ký các giấy tờ thủ tục và được Nhà nước cấp hỗ trợ tái định cư lô đất số A26-15 và nhận số tiền đền bù 1.015.298.309đ. Bị cáo H đã chiếm đoạt số tiền mà nhà nước bồi thường thửa đất thu hồi cho vợ chồng ông L và bà T là 1.015.298.309 đồng và thực hiện thủ đoạn gian dối để vợ chồng ông L bà T ký vào hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho anh Kiều Văn V, qua đó chiếm đoạt toàn bộ số tiền 2.200.000.000 đồng bán đất có được để sử dụng cho cá nhân. Trong đó, theo vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T xác định trong tổng số tiền nhà nước bồi thường 1.015.298.309đ thì có bồi thường về đất là 65.660.000 đồng là tiền vợ chồng ông L được hưởng, số tiền còn lại là bồi thường, hỗ trợ liên quan đến tài sản, vật kiến trúc trên đất trong tổng số 1.015.298.309 đồng thì Huỳnh Tấn H được hưởng, tổng cộng số tiền Huỳnh Tấn H chiếm đoạt của vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T là 2.265.660.000 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm sáu mươi ngàn đồng). Tổng cộng số tiền Huỳnh Tấn H đã chiếm đoạt của Nguyễn Hà T1, vợ chồng ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T là 2.865.660.000 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi ngàn đồng).

Hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Huỳnh Tấn H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản Cáo trạng truy tố số: 05/CT-VKSQN-P2 ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị và dư luận xã hội lên án. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi hiểu và nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, tạo ra tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Huỳnh Tấn H lừa đảo chiếm đoạt tiền nhiều lần của nhiều bị hại, mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại ông Nguyễn Hà T1 số tiền 600.000.000 đồng; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình; gia đình bị cáo có công cách mạng (cha mẹ là thương binh được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, có bác ruột là liệt sĩ) nên được áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về loại hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Tấn H đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt 600.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Hà T1; đối với bị hại ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T đã tự thỏa thuận giải quyết về trách nhiệm dân sự với bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[7] Các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Ngày 26/01/2022, ông Huỳnh Trường L và bà Hà Thị Kim T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Kiều Văn V đối với thửa đất số 15 A26 tờ bản đồ QH04, diện tích 200 m², loại đất ở nông thôn. Giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 575.000.000 đồng, tuy nhiên qua làm việc xác định giá trị chuyển nhượng thực tế là 2.200.000.000 đồng. Về nội dung này, ngày 10/12/2024, Cục Thuế tỉnh Q đã có Công văn số 10487 về việc cung cấp thông tin nghĩa vụ thuế, theo đó số thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ phải nộp liên quan đến việc mua bán đất của vợ chồng ông L, bà T và ông V là 55.000.000 đồng nên không có cơ sở để xử lý các cá nhân có hành vi “Trốn thuế” theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Trường L, bà Hà Thị Kim T với ông Kiều Văn V hiện nay đã được điều chỉnh biến động sang tên ông Kiều Văn V; ông Huỳnh Trường L, bà Hà Thị Kim T và bị cáo Huỳnh Tấn H đã tự thỏa thuận giải quyết về trách nhiệm bồi thường dân sự liên quan đến thửa đất này, ông L và bà T không yêu cầu xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng này nên không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/3/2024.

  2. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Huỳnh Tấn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/3/2025). Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố xử phạt bị cáo 7 năm 6 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger