|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS - ST
Ngày: 26 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy
- Ông Hà Thanh Phong
- - Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST - HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Anh H; giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 2 năm 1980, tại B, Vĩnh Phúc; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Ngô Kim B, sinh năm 1957, hiện lao động tự do tại Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B1; Đã chết; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1984, hiện lao động tự do tại Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Con: Có 03 người con, nhỏ nhất sinh năm 2014, lớn nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo hiện đang tại ngoại ở xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1951; Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Anh H, sinh ngày 10/02/1980 ở xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, là lái xe taxi. Quá trình chạy xe taxi H thường xuyên chở khách là ông Bùi Văn H1, sinh năm 1951 ở khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Buổi trưa ngày 03/11/2024, trong quá trình đưa và đón khách trên địa bàn huyện L, tỉnh Phú Thọ. H đến nhà ông Hồng C, ăn cơm. Sau khi ăn xong ông Hồng R bát ngoài sân, H thấy điện thoại di động của ông H1 để tại bàn uống nước kê ở phòng khách. H liền cầm chiếc điện thoại di động của ông H1 đi ra gặp và nói với ông H1 cho H mượn điện thoại của ông H1 để xem lại ảnh do H đã chụp cho ông H1 trước đó. Ông H1 đồng ý và mở mật khẩu khóa màn hình điện thoại đưa cho H mượn. H cầm chiếc điện thoại đi vào trong phòng khách, còn ông H1 vẫn đang rửa bát ngoài sân. Tại phòng khách, H thấy trên màn hình có cài đặt ứng dụng Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H (H2). Do biết mật khẩu đăng nhập ngân hàng H2 của ông H1 nên H đăng nhập thành công vào tài khoản của ông H1, H phát hiện trong tài khoản ngân hàng có số tiền khoảng 30.000.000 đồng. Do cần tiền tiêu xài cá nhân H nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong tài khoản ông H1. Khi chuyển tiền qua ứng dụng ngân hàng từ 10.000.000 đồng trở lên cần phải có sinh trắc học, nhận diện khuôn mặt nên H chỉ chuyển khoản số tiền 9.000.000 đồng từ ứng dụng tài khoản (H2) của ông H1 đến tài khoản số 0962666815 thuộc ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) của H với nội dung chuyển tiền: “hjh”. H thực hiện thành công giao dịch chuyển khoản số tiền 9.000.000 đồng vào hồi 12 giờ 22 phút, H kiểm tra điện thoại OPPO A93, màu đen, lắp sim thuê bao số 0962666815 và 0974101625 của mình thấy tài khoản được cộng thêm 9.000.000 đồng. Sau đó, H tiếp tục thực hiện thao tác như trên và chuyển tiếp thành công 9.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của H với nội dung chuyển tiền: “hji” vào hồi 12 giờ 23 phút, thì tài khoản của H tiếp tục được cộng thêm 9.000.000 đồng. Tổng cộng, qua 02 lần chuyển khoản, H đã trộm cắp được số tiền 18.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng H2 của ông H1. Để không bị ông H1 phát hiện việc chuyển tiền trên, H đã xóa bỏ thông báo biến động số dư tài khoản đối với 02 lần chuyển tiền và tiếp tục sử dụng điện thoại của ông H1 để xem ảnh. Khoảng 05 phút sau, ông H1 vào nhà uống nước với H. Lúc này H đã trả lại điện thoại, ngồi chơi một lúc rồi sau đó đi về. Trên đường về H đã chặn tài khoản zalo để ông H1 không thể liên lạc được với H nữa. Số tiền 18.000.000 đồng trộm cắp được H đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi bị mất tiền, ngày 25/12/2024 ông H1 đã đến Công an huyện L trình báo về việc bị trộm cắp tiền trong tài khoản. Cơ quan điều tra đã triệu tập Ngô Anh H đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại OPPO A93, màu đen, số IMEI 1: 868057057968233, số IMEI 2: 868057057968225, lắp sim thuê bao số 0962666815 và 0974101625, lời khai của H phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng đã thu giữ cùng những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra H đã bồi thường cho ông Bùi Văn H1 số tiền 18.000.000 đồng. Ông H1 đã nhận lại tiền và không đề nghị gì khác.
*. Về việc thu giữ và xử lý vật chứng:
Thu giữ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen, số IMEI 1: 868057057968233, IMEI 2: 868057057968225, điện thoại đã qua sử dụng, có cài hai sim số thuê bao: 0962666815 và 0974101625.
*. Về tài sản: Qua xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện L, bị cáo Ngô Anh H hiện đang sống cùng bố mẹ, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị.
*. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, H đã tự nguyện trả lại cho ông H1 số tiền 18.000.000đ, ông H1 đã nhận đủ và không có đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi.
Tại Cáo trạng số 14/CT - VKSLT ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã truy tố đối với Ngô Anh H về tội "Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
*. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
*. Về hình phạt: Xử phạt Ngô Anh H từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với bị cáo. Giao bị cáo Ngô Anh H cho UBND xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
*. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*. Về khấu trừ thu nhập: Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo
Buộc bị cáo Ngô Anh H phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
*. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen, số IMEI 1: 868057057968233, IMEI 2: 868057057968225, điện thoại đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 hai sim số thuê bao: 0962666815 và 0974101625 lắp trong máy điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen của bị cáo Ngô Anh H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 27/02/2025tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ).
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Ngô Anh H đã tự nguyện trả lại cho ông H1 số tiền 18.000.000đ, ông H1 đã nhận đủ và không có đề nghị gì khác. Nên không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Ngô Anh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (HSST).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
[2] . Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 03/11/2024 tại khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Ngô Anh H đã trộm cắp số tiền 18.000.000₫ của ông Bùi Văn H1 bằng hình thức chuyển tiền trực tiếp từ ứng dụng M trên điện thoại của ông H1 sang tài khoản M của H.
Do vậy, hành vi của bị cáo Ngô Anh H đã phạm tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
[3]. Về tính chất, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức được trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, với lỗi cố ý trực tiếp. Vì động cơ, mục đích vụ lợi, muốn kiếm tiền nhanh chóng mà không phải bỏ sức lao động; điều đó thể hiện sự ngang nhiên, coi thường pháp luật. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Vì vậy, cần xử lý để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với bị cáo.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa từng có tiền án, tiền sự.
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra bị cáo H tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Ngô Anh H có nhân thân tốt; chưa từng có tiền án, tiền sự; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS. Vì vậy, áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ, cho bị cáo ở ngoài xã hội cũng bảo đảm tính răn đe; để bị cáo cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội.
[5.2 ] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng và theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án hình phạt cải tạo không giam giữ, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước.
Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định; bị cáo ở cùng bố mẹ, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Tuy nhiên, cần buộc bị cáo Ngô Anh H phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- - Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen, số IMEI 1: 868057057968233, IMEI 2: 868057057968225, điện thoại đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng để phạm tội.
- - Cần tịch thu tiêu hủy của bị cáo Ngô Anh H 02 hai sim số thuê bao: 0962666815 và 0974101625 lắp trong máy điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 27/02/2025tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ).
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Ngô Anh H đã tự nguyện trả lại cho ông Bùi Văn H1 số tiền 18.000.000đồng, ông H1 đã nhận đủ và không có đề nghị gì khác. Nên không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự là phù hợp.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Anh H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- - Về hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Ngô Anh H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với bị cáo. Giao bị cáo Ngô Anh H cho UBND xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- 3. Về khấu trừ thu nhập: Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo
- Buộc bị cáo Ngô Anh H phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen, số IMEI 1: 868057057968233, IMEI 2: 868057057968225, điện thoại đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 hai sim số thuê bao: 0962666815 và 0974101625 lắp trong máy điện thoại nhãn hiệu OPPO A93, màu đen của bị cáo Ngô Anh H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 27/02/2025tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ).
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Ngô Anh H đã tự nguyện trả lại cho ông Bùi Văn H1 số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng), ông H1 đã nhận đủ và không có đề nghị gì khác. Nên không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.
- Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Anh H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Yên |
Bản án số 31/2025/HS - ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Anh H phạm tội trộm cắp tài sản
