|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 24-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Điệp và ông Lê Văn Hướng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Nữ Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà:
Ông Dương Phước An - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, số E đường Đ, phường T, thị xã H, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: số 23/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Trần Thị Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/2/1961 tại thành phố H; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, thị xã H, thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình N và bà Dương Thị M (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Duy L và 05 con (lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1997); Tiền án, tiền sự: không;
- Hồ Thị T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/8/1964 tại thành phố H; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, thị xã H, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động; trình độ học vấn: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Hồ Đăng D (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Chồng: không có và có 01 con sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 14/6/2018, bị Phòng PC45 Công an tỉnh T (nay là thành phố H) xử phạt hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/02/2025 cho đến nay. Có mặt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 10 phút ngày 17 tháng 12 năm 2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an thị xã H kiểm tra tại nhà Trần Thị Đ thuộc thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), phát hiện Trần Thị Đ có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề với Hồ Thị Tuyết. Quá trình điều tra xác định:
Trần Thị Đ có quen biết với một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) ở chợ H, xã H, thị xã H biết Đ có ghi tịch đề nên muốn nhận tịch đề từ Đủ để đánh bạc được thua bằng tiền. Vào buổi chiều, trước giờ xổ số, người đàn ông đó sẽ đến nhà Đ để lấy giấy có nội dung tịch đề được Đủ ghi từ những con bạc và chụp lại rồi thanh toán tiền vào ngày hôm sau.
Cách thức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề như sau:
Các đối tượng thắng thua với nhau dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các công ty xổ số kiến thiết do Nhà nước quản lý mở thưởng hàng ngày. Các đối tượng quy ước đài Miền T2 (xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành có thời gian quay số mở thưởng từ 17 giờ 15 phút đến 17 giờ 30 phút hàng ngày), Miền B (xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành có thời gian quay số mở thưởng từ 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày).
Cách thức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề và tỷ lệ thắng thua như sau: Nếu người chơi số đề ghi 10.000 đồng thì sẽ ghi vào tịch đề là 13.500 đồng (tương đương 1.35, tức là người chơi số đề được hưởng thêm khoản hoa hồng khuyến mãi là 35% trên số tiền thực đánh). Mỗi tịch đề gồm các cặp số 00 đến 99 hoặc 000 đến 999 là số đánh đề và tiền đánh đề theo từng đài khác nhau. Trong hình thức đánh đề có nhiều cách đánh khác nhau như bao lô, 17 lô, 6 lô, đặc biệt, đầu, đuôi, xuyên 2, xuyên 3...... dựa theo kết quả xổ số các đài M, M. Kết quả thắng thua, lấy con số mà người chơi đánh đề để đối chiếu với tất cả các giải, hoặc ba số cuối (trừ giải tám) của kết quả xổ số trong ngày; nếu số mà người chơi đánh trùng với các số trong các giải dựa theo kết quả xổ số các đài thì người đánh trúng thưởng và thắng tiền theo tỷ lệ quy ước so với số tiền trên tịch đề và ngược lại nếu không trúng thì người chơi sẽ thua.
Đối với các đài miền T2 thì tỷ lệ thắng như sau: Đánh 02 số lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 70 chia cho 18 lô, nếu đánh 03 số (ba chân) lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 600 chia cho 17 lô, giải thượng 06 lô tỷ lệ 1 ăn 100, giải đặc biệt tỷ lệ 1 ăn 600, giải đầu, đuôi tỷ lệ 1 ăn 70, cả đầu đuôi tỷ lệ 1 ăn 35.
Đối với các đài miền B thì tỷ lệ thắng như sau: Đánh 02 số lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 70 chia cho 27 lô, nếu đánh 03 số (ba chân) lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 600 chia cho 23 lô, giải thượng 10 lô tỷ lệ 1 ăn 60, giải đặc biệt tỷ lệ 1 ăn 600, xuyên 2 tỷ lệ 1 ăn 10, xuyên 3 tỷ lệ 1 ăn 40, giải đầu, đuôi tỷ lệ 1 ăn 70, cả đầu đuôi tỷ lệ 1 ăn 35, giải 10 lô tỷ lệ 1 thắng 60.
Quá trình làm việc đã thể hiện việc ghi và lưu giữ các số đề của Trần Thị Đ cho Hồ Thị T và những người khác. Tang số đánh bạc cụ thể như sau.
1. Hành vi đánh bạc của Trần Thị Đ:
Trần Thị Đ ghi số đề cho Hồ Thị T và một số khách qua đường đánh lô đề rồi tổng hợp lại vào một tờ giấy ghi tịch đề để chuyển cho nhà cái. Khi khách đến ghi đề thì Đ ghi ra mảnh giấy nhỏ ghi đài đánh, số đánh, số tiền đánh. Sau đó, Đ tổng hợp tất cả con số đề vào tờ giấy ghi tịch đề, số tiền đánh ghi trên tịch đề được bỏ đi ba số 0 đằng sau của số tiền. Vào lúc 18 giờ 10 phút, ngày 17/12/2024, tang số đánh bạc của Trần Thị Đ được thể hiện như sau:
Đối với đài miền T (Quảng Nam, Đắk Lắk), Đ đã ghi tịch đề gồm 52 số đánh, tiền ghi trên tịch đề là 5.086.800 đồng, tiền trúng đề là 11.200.000 đồng. Do đó, tang số đánh bạc đài miền T là 5.086.800 đồng + 11.200.000 đồng = 16.286.800 đồng.
Đối với đài miền B (đài miền B chưa quay xổ số), Đ đã ghi tịch đề gồm 57 số đánh, tiền ghi trên tịch đề là 1.624.500 đồng. Do đó, tang số đánh bạc đài miền B là 1.624.500 đồng.
Như vậy, vào ngày 17/12/2024, Trần Thị Đ có hành vi đánh bạc tổng cộng 02 lượt đánh với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 17.911.300 đồng. Trong đó, có 01 lượt đánh từ 5.000.000 đồng trở lên, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 16.286.800 đồng.
Do đó, Trần Thị Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 16.286.800 đồng.
2. Hành vi đánh bạc của Hồ Thị T thông qua Trần Thị Đ:
Vào ngày 17/12/2024, Hồ Thị T đến nhà Trần Thị Đ ghi đề trực tiếp để đánh bạc được thua bằng tiền. Đối với đài miền T (Quảng Nam, Đắk Lắk), T đánh 11 con số với tổng số tiền đánh là 387.800 đồng, tiền trúng đề là 6.370.000 đồng. Do đó, tang số đánh bạc đài miền T là 6.757.800 đồng.
Đối với đài miền B, T đánh 02 số với tổng số tiền đánh là 54.000 đồng. Do đài miền B chưa quay xổ số nên tang số đánh bạc đài miền B của Hồ Thị T là 54.000 đồng.
Như vậy, vào ngày 17/12/2024, Hồ Thị T có hành vi đánh bạc 02 lượt đánh cùng Trần Thị Đ với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 6.811.800 đồng. Trong đó, có 01 lượt đánh từ 5.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 6.757.800 đồng.
Do đó, Hồ Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 6.757.800 đồng.
* Về vật chứng và xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) tờ giấy A4 có nội dung các phơi đề đài miền T2 và đài miền B ghi ngày 17/12/2024.
- 03 (ba) mảnh giấy có nội dung các tịch đề đài Miền T2, Miền Bắc ngày 17/02/2024 đã được tổng hợp vào tờ giấy A4 nêu trên.
- 01 (một) tờ giấy ghi hai con số đề Miền Bắc ngày 17/02/2024.
- 01 (một) tờ giấy ghi số đề đài Miền Trung ngày 17/02/2024.
- Tạm giữ của Hồ Thị T 01 (một) mảnh giấy A4 (tịch đề) thể hiện việc ghi đề vào ngày 17/02/2024.
Tiền Ngân hàng N1: 4.741.500. Trần Thị Đ tự nguyện giao nộp số tiền 4.361.500 đồng, Hồ Thị T tự nguyện giao nộp số tiền 380.000 đồng.
Các vật chứng nêu trên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác: Trần Thị Đ, Hồ Thị T có hành vi đánh bạc vào ngày 17/12/2024 ở đài miền B với tang số dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, Trần Thị Đ, Hồ Thị T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi của Trần Thị Đ, Hồ Thị T không cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại điều 321 Bộ luật hình sư. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý là có căn cứ.
Đối với người đàn ông nhận tịch đề từ Trần Thị Đ và những con bạc đến ghi số đề tại nhà của Đủ vào ngày 17/12/2024, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không có căn cứ để triệu tập làm việc, xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKSHTh ngày 10/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đã truy tố các bị cáo Trần Thị Đ, Hồ Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo;
Để xử phạt:
- Bị cáo Trần Thị Đ từ 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng.
- Bị cáo Hồ Thị T từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
- Đối với số tiền 4.361.500 đồng của Trần Thị Đ và số tiền 380.000 đồng của Hồ Thị T tự nguyện giao nộp, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các vật chứng như:
- 01 (một) tờ giấy A4 có nội dung các phơi đề đài miền T2 và đài miền B ghi ngày 17/12/2024.
- 03 (ba) mảnh giấy có nội dung các tịch đề đài Miền T2, Miền Bắc ngày 17/02/2024 đã được tổng hợp vào tờ giấy A4 nêu trên.
- 01 (một) tờ giấy ghi hai con số đề Miền Bắc ngày 17/02/2024.
- 01 (một) tờ giấy ghi số đề đài Miền Trung ngày 17/02/2024.
- Tạm giữ của Hồ Thị T 01 (một) mảnh giấy A4 (tịch đề) thể hiện việc ghi đề vào ngày 17/02/2024.
Cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với vụ án đều hợp pháp, đúng quy định.
[2] Về hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận::
Trong ngày 17/12/2024, tại thôn G, xã H, thị xã H, thành phố H, Trần Thị Đ và Hồ Thị T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề, được thua bằng tiền. Cụ thể:
Trần Thị Đ có hành vi đánh bạc tổng cộng 02 lượt đánh với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 17.911.300 đồng. Trong đó, có 01 lượt đánh từ 5.000.000 đồng trở lên, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 16.286.800 đồng.
Hồ Thị T có hành vi đánh bạc 02 lượt đánh cùng Trần Thị Đ với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 6.811.800 đồng. Trong đó, có 01 lượt đánh từ 5.000.000 đồng trở lên, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 6.757.800 đồng.
Hành vi này của các bị cáo là dễ gây mất an ninh trật tự và cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Do đó, Cáo trạng số 25/CT-VKSHTh ngày 10/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà truy tố các bị cáo Trần Thị Đ và Hồ Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên dẫn đến việc phạm tội. Hành vi này không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, mà hành vi này còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác; nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án có đồng phạm theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự, tuy nhiên có tính chất giản đơn, bị cáo Trần Thị Đ là người trực tiếp ghi đề và chuyển các tịch đề thắng thua cho chủ đề nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Hồ Thị T là người trực tiếp đánh số đề để hưởng lợi thắng thua nên đồng phạm với bị cáo Đ với vai trò người thực hành.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
- Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự gì.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã đã tự nguyện nộp lại một khoản tiền sử dụng vào việc đánh bạc, khắc phục hậu quả. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo đều là phụ nữ; chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải áp dụng hình phạt tù mà cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử “Phạt tiền” đối với các bị cáo là phù hợp, cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền, tương xứng với hành vi phạm tội, và đa phần các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 4.361.500 đồng của Trần Thị Đ và số tiền 380.000 đồng của Hồ Thị T tự nguyện giao nộp, đây không phải tiền thu lợi bất chính; tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các vật chứng như:
- 01 (một) tờ giấy A4 có nội dung các phơi đề đài miền T2 và đài miền B ghi ngày 17/12/2024.
- 03 (ba) mảnh giấy có nội dung các tịch đề đài Miền T2, Miền Bắc ngày 17/02/2024 đã được tổng hợp vào tờ giấy A4 nêu trên.
- 01 (một) tờ giấy ghi hai con số đề Miền Bắc ngày 17/02/2024.
- 01 (một) tờ giấy ghi số đề đài Miền Trung ngày 17/02/2024.
- Tạm giữ của Hồ Thị T 01 (một) mảnh giấy A4 (tịch đề) thể hiện việc ghi đề vào ngày 17/02/2024.
Là các chứng cứ, tài liệu chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án theo quy định.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trần Thị Đ và Hồ Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo: Trần Thị Đ và Hồ Thị T phạm tội Đánh bạc.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- 01 (một) tờ giấy A4 có nội dung các phơi đề đài miền T2 và đài miền B ghi ngày 17/12/2024.
- 03 (ba) mảnh giấy có nội dung các tịch đề đài Miền T2, Miền Bắc ngày 17/02/2024 đã được tổng hợp vào tờ giấy A4 nêu trên.
- 01 (một) tờ giấy ghi hai con số đề Miền Bắc ngày 17/02/2024.
- 01 (một) tờ giấy ghi số đề đài Miền Trung ngày 17/02/2024.
- 01 (một) mảnh giấy A4 (tịch đề) thể hiện việc ghi đề vào ngày 17/02/2024.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: - Bị cáo Trần Thị Đ: 15.000.000 đồng.
- Bị cáo Hồ Thị T: 10.000.000 đồng.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.361.500 đồng của Trần Thị Đ và số tiền 380.000 đồng của Hồ Thị T để đảm bảo thi hành án.
Khoản tiền nêu trên đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà theo Ủy nhiệm chi lập ngày 09/6/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực XII.
- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án:
Buộc các bị cáo: Trần Thị Đ và Hồ Thị T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Anh |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đủ - đánh bạc
