Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Bà Lương Thị Thu An

Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Phước Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/HSST-QĐ ngày 06/01/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐHPT- HS, ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:

PHẠM HÙNG T, sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Hùng C và bà: Nguyễn Thị T1; Vợ: Nguyễn Thị Thu H; con có 01 người sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến ngày 07/8/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

  • + Phạm Thị T2, sinh năm 1933; Nơi cư trú: Khu phố B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
  • + Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Hùng C, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hùng T làm công nhân cho Công ty TNHH L1, địa chỉ: Khu công nghiệp B thuộc phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Khoảng 07 giờ ngày 12/4/2024, sau khi hết giờ làm ca đêm tại Công ty, T cùng với anh Kim Hoài L, sinh năm 1991 (Khóm G, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng); anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1996 (Ấp S, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước) và anh Hoàng Nha T4, sinh năm 1979 (Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) cùng làm công nhân Công ty Leoch Supper Power đến quán lẩu bò, địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã C để ăn nhậu. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, sau khi uống hết khoảng 01 lít rượu, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 93B1 - 204.24 ra về. Lúc này, T nảy sinh ý định tìm người phụ nữ đang sinh sống ở những khu vực vắng vẻ hoặc đi qua lại để thực hiện hành vi giao cấu nhằm thoả mãn nhu cầu sinh lý cơ thể. T điều khiển xe mô tô đến khu vực khu phố E, phường M thì nhìn thấy nhà bà Phạm Thị T2, sinh năm 1933 (Tổ B, khu phố E, phường M, thị xã C) giáp với mặt đường, có cửa chính không khoá. Lúc này, T dựng xe mô tô tại lề đường phía trước nhà, sau đó đi bộ vào trong nhà bà T2 rồi tiếp tục đi vào trong phòng ngủ của bà T2 thì nhìn thấy bà T2 đang nằm nghiêng trên giường, mặt hướng vào trong tường, T dùng tay tự kéo khóa quần và kéo quần dài của mình xuống ngang đầu gối rồi tiếp tục dùng tay sờ vào đùi bà T2, sau đó kéo quần dài của bà T2 xuống ngang đùi nhằm mục đích giao cấu trái ý muốn thì bà T2 tri hô kêu cứu. Lúc này, cháu của bà T2 là Ngô Bảo K, sinh năm 2011 nghe thấy bà T2 kêu cứu lên thì cháu K nói “để cháu gọi cho bố mẹ cháu”. Nghe vậy, T bỏ chạy ra ngoài, rồi lên xe mô tô tẩu thoát.

Sau đó, T điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường H, hướng phường M, thị xã C đi phường T, thị xã C. Khi đến cổng Khu công nghiệp B trên đường Q thì gặp bà Trương Thị Thúy P1, sinh năm 1972 (Tổ I, khu phố B, phường H, thị xã C) đang điều khiển xe môtô kéo móc tự chế đi mua phế liệu, lưu thông cùng chiều phía trước nên T tiếp tục nảy sinh giao cấu với bà P1. Vì vậy, T điều khiển xe mô tô biển số 93B1 - 204.24 đi đến gần bà P1 rồi giả vờ hỏi “cô mua ve chai hả, cô ghé vườn cao su của con, con bán cho cô ít kiềng sắt hư hỏng” nhằm mục đích dẫn bà P1 đến khu vực vắng người để thực hiện hành vi phạm tội. Thấy vậy, bà P1 đồng ý mua và đi theo, T điều khiển xe mô tô chạy trước dẫn bà P1 đến vườn cao su, địa chỉ: Khu phố A, phường M, thị xã C do ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962 (Tổ C, khu phố H, phường H, thị xã C) là chủ vườn. Tại đây, T nhặt được 04 kg kiềng sắt bán cho bà P1. Khi bà P1 đang cân kiềng sắt thì T lén rút chìa khoá điện trên xe mô tô của bà P1 vứt đi. Mục đích không để bà P1 lên xe rời khỏi vườn cao su, tạo thuận lợi cho T thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của bà P1. Bà P1 trả cho T số tiền 20.000 đồng rồi đưa kiềng sắt lên xe thì phát hiện mất chìa khoá xe. Trong lúc bà P1 đang tìm chìa khoá thì T đến ôm hông của bà P1 từ phía sau. Bà P1 quay người lại đối diện với T thì T dùng hai tay nắm vai của bà P1, đè bà P1 nằm ngửa dưới đất. Thái ngồi trên bụng bà P1, dùng tay trái giữ đè tay phải bà P1, chân phải đè giữ tay trái bà P1. Bị T khống chế, bà P1 phản ứng nói “con ơi đừng làm vậy, tha cho cô đi, cô còn nuôi con nhỏ” thì T nói “cô im đi, cô không muốn mất tiền thì nằm im đi, không tôi giết cô đó”. Sau đó, T dùng tay kéo quần dài bằng vải thun và quần lót của bà P1 xuống đến đầu gối. T tiếp tục dùng tay kéo quần dài bằng vải thun của T xuống đến đầu gồi, rồi cầm dương vật ấn vào trong miệng bà P1, ép bà P1 phải ngậm dương vật của T. Bà P1 không đồng ý, cắn răng lại nên T không đưa dương vật vào sâu trong miệng bà P1 mà chỉ đưa dương vật vào giữa môi trên và môi dưới của bà P1. Bà P1 vùng vẫy, chống cự thì bị T đe doạ bằng lời nói “Cô im đi, đừng vùng vẫy nữa, không thì tôi giết cô”. T tiếp tục dùng tay kéo áo của bà P1 lên trên và sờ vào ngực bà P1. T đưa dương vật vào trong miệng bà P1 để thực hiện hành vi giao cấu khác trái ý muốn của bà P1 khoảng gần 01 phút. Lúc này, anh Lâm T5, sinh năm 1977 và anh Lâm T6, sinh năm 1978 cùng nơi thường trú: Ấp D, xã N, thị xã C là công nhân chăm sóc cây xanh của Công ty B điều khiển xe mô tô chạy ngang qua vườn cao su của ông Đ. Phát hiện có người đến nên T đứng lên tự kéo quần, rồi nói bà P1 kéo quần áo lên. Sau đó, T yêu cầu bà P1 phải cùng T nấp sau móc tự chế của xe mô tô. Khi anh Lâm T5 và anh Lâm T6 chạy xe đến gần thì bà P1 tri hô, kêu cứu. Lúc này, T lên xe mô tô biển số 93B1 - 204.24 bỏ chạy ra đường H, tẩu thoát về nhà ngủ, còn bà P1 đến Công an phường M trình báo.

* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Phạm Hùng T, vào lúc 13 giờ 08 phút ngày 12/4/2024 là 0,00 mg/1 lít khí thở (không sử dụng chất có nồng độ cồn).

* Kết quả xét nghiệm chất ma tuý đối với Phạm Hùng T, vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 12/4/2024: Dương tính (có sử dụng chất ma tuý).

* Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 6328/KLĐG, ngày 06/9/2024, của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận:

  1. Về y học:
    • - Trước và sau khi thực hiện hành vi phạm tội đối tượng Phạm Hùng T tâm thần bình thường.
    • - Trong khi thực hiện hành vi phạm tội đối tượng Phạm Hùng T nhiễm độc cấp nhiều loại chất kích thích (F19.0-ICD 10).
  2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
    • - Trước và sau khi thực hiện hành vi phạm tội đối tượng Phạm Hùng T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
    • - Trong khi thực hiện hành vi phạm tội đối tượng Phạm Hùng T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ý kiến khác: Nguyên nhân việc Phạm Hùng T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là do sử dụng nhiều loại chất kích thích.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:

  • - 01 quần vãi thun dài màu đen, bên ống quần phải có ghi chữ “adidas neo”, bên ống trái có ghi chữ “adidas”; 01 quần lót màu xám lưng quần màu đen trên lưng quần có ghi chữ “fruit of the loom”; 01 quần đùi thun màu đen bên ống phải có in chữ “SPORT” màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước ghi chữ màu xanh “JOKER”, phía sau in hình mặt người với ghi chữ “JOKER” (là quần áo của T mặc ngày 12/4/2024 đi thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của bà Phạm Thị T2 và bà Trương Thị Thúy P1) và 01 bình nước có quai xách màu đỏ, phía dưới ghi chữ “Tylien”.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCUE3220HY022334 số máy E3X9E081637, biển số 93B1-204.24 do Phạm Hùng T là chủ sở hữu.
  • - Số tiền 20.000 đồng là tiền T thu lợi từ việc lấy kiềng phế liệu từ vườn của ông Nguyễn Văn Đ bán cho bà Trương Thị Thúy P1.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Thị T2 đã nhận số tiền 15.000.000 đồng do gia đình của bị cáo T bồi thường, khắc phục hậu quả; Bị hại Trương Thị Thúy P1 không yêu cầu T bồi thường.

Bản cáo trạng số 129/Ctr-VKS ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Phạm Hùng T về tội “Hiếp dâm” quy định theo điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Hùng T về tội “Hiếp dâm” và áp dụng điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 50, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức án 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành còn đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi bị hại. Bị cáo rất hối hận và kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Ngày 12/04/2024, Phạm Hùng T có hành vi đột nhập vào trong phòng ngủ của bà Phạm Thị T2 (địa chỉ: tổ B, khu phố E, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước) dùng tay sờ đùi, cởi quần của bà T2 mục đích giao cấu trái ý muốn của bà T2. Do bà T2 và K là cháu của bà T2 tri hô nên T chưa giao cấu được mà bỏ chạy. Sau đó, T tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối dẫn bà Trương Thị Thúy P1 đến vườn cao su của ông Nguyễn Văn Đ (Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước) rồi dùng vũ lực khống chế, đè bà P1 mục đích giao cấu trái ý muốn của bà P1, rồi T dùng tay cầm dương vật của T vào trong miệng của bà P1, ép bà P1 thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, trái ý muốn của bà P1 thì bị anh Lâm T6 và Lâm T5 phát hiện. Hành vi của Phạm Hùng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” quy định theo điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  3. [3]. Về tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến thể chất, nhân phẩm, danh dự của bị hại được pháp luật bảo vệ, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất an ninh trật tự địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình do đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
  4. [4]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    1. [4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    2. [4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, phía bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có công với cách mạng. nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phía bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự, hậu quả chưa xẩy ra. Từ phân tích trên, cần xử bị cáo dưới khung hình phạt bị truy tố theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  1. [6]. Về vật chứng:

    Đối với 01 quần vãi thun dài màu đen, bên ống quần phải có ghi chữ “adidas neo”, bên ống trái có ghi chữ “adidas”; 01 quần lót màu xám lưng quần màu đen trên lưng quần có ghi chữ “fruit of the loom”; 01 quần đùi thun màu đen bên ống phải có in chữ “SPORT” màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước ghi chữ màu xanh “JOKER”, phía sau in hình mặt người với ghi chữ “JOKER” (là quần áo của T mặc ngày 12/4/2024 đi thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của bà Phạm Thị T2 và bà Trương Thị Thúy P1) và 01 bình nước có quai xách màu đỏ, phía dưới ghi chữ “Tylien”. Do những đồ vật này không còn giá trị sử dụng bị cáo Phạm Hùng T từ chối nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.

    Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCUE3220HY022334 số máy E3X9E081637, biển số 93B1-204.24 do Phạm Hùng T là chủ sở hữu không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

    Đối với số tiền 20.000 đồng là tiền T thu lợi từ việc lấy kiềng phế liệu từ vườn của ông Nguyễn Văn Đ bán cho bà Trương Thị Thúy P1 cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  2. [7]. Về trách nhiệm dân sự:

    Bị hại Phạm Thị T2 đã nhận số tiền 15.000.000 đồng do gia đình của bị cáo T bồi thường, khắc phục hậu quả và không yêu cầu gì thêm; Bị hại Trương Thị Thúy P1 không yêu cầu T bồi thường. Do đó trách nhiệm dân sự không xem xét.

  3. [8]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hùng T về tội “Hiếp dâm”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 50, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Phạm Hùng T 03 năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 07/8/2024.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    • Tịch thu tiêu huỷ 01 quần vãi thun dài màu đen, bên ống quần phải có ghi chữ “adidas neo”, bên ống trái có ghi chữ “adidas”; 01 quần lót màu xám lưng quần màu đen trên lưng quần có ghi chữ “fruit of the loom”; 01 quần đùi thun màu đen bên ống phải có in chữ “SPORT” màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước ghi chữ màu xanh “JOKER”, phía sau in hình mặt người với ghi chữ “JOKER” (là quần áo của T mặc ngày 12/4/2024 đi thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của bà Phạm Thị T2 và bà Trương Thị Thúy P1) và 01 bình nước có quai xách màu đỏ, phía dưới ghi chữ “Tylien”.
    • Trả cho bị cáo Phạm Hùng T 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCUE3220HY022334 số máy E3X9E081637, biển số 93B1-204.24.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 20.000 đồng là tiền T thu lợi từ việc lấy kiềng phế liệu từ vườn của ông Nguyễn Văn Đ.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Phạm Hùng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Ngọc

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vụ án hình sự về tội "hiếp dâm"

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Hiếp dâm"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger