Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - GIA LAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 26-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Xiềng và ông Trương Thế Vinh.

- Thư ký phiên toà: Ông Vương Tấn Lập, Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS, ngày 05/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS, ngày 03/10/2025 đối với bị cáo:

  1. Ksor B2, tên gọi khác: Không, sinh ngày 31/12/1995, tại tỉnh Gia Lai;

    Căn cước công dân: [...]

    Nơi cư trú: Làng L, xã I, tỉnh Gia Lai

    Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Gia rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rơ Mah G, sinh năm 1976 và bà Ksor D, sinh năm 1980; bị cáo có vợ là Puih B, sinh năm 1996; bị cáo 01 con sinh năm 2018.

    Tiền sự: Không;

    Tiền án: 01 tiền án. Ngày 09/12/2021 bị Tòa án Quân sự khu vực 1 Quân khu 5 xử phạt 36 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 12/2021/HS-ST. Ngày 02/9/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

    Nhân thân: Xấu.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh G. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Siu H1, tên gọi khác: Không, sinh ngày 17/9/2000, tại tỉnh Gia Lai.

    Căn cước công dân: [...]

    Nơi thường trú: Làng Yom, xã I, tỉnh Gia Lai; Nơi ở hiện tại: Làng L, xã I, tỉnh Gia Lai.

    Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Gia rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Siu H, sinh năm 1980 và bà Siu Y, sinh năm 1981; bị cáo có vợ là Rơ Mah T, sinh năm 1998; bị cáo 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2018.

    Tiền án; Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2025 đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  3. Rơ Mah J, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04/12/1995, tại tỉnh Gia Lai.

    Căn cước công dân: [...]

    Nơi cư trú: Làng D, xã I, tỉnh Gia Lai

    Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Gia rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rơ Mah J1, sinh năm 1965 và bà Rơ Mah P, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ; bị cáo 01 con sinh năm 2014

    Tiền án; Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2025 đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Rơ Châm B1, sinh ngày 01/01/1954,

Căn cước công dân: [...]

Địa chỉ: Làng M, xã I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

- Người phiên dịch: Ông Puih D1, Công tác tại Phân trại tạm giam khu vực I - Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh G. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 19/6/2025, Ksor B2 uống rượu cùng với Rơ Mah J và Siu H1 tại nhà của H1. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu thì J rủ B2, H1 đi trộm cắp tài sản thì cả hai cùng đồng ý. Sau đó B2 điều khiển xe mô tô của B2 chở J và H1 đi tới khu vực lô cao su thuộc làng L, xã I thì để xe mô tô tại đây và đi bộ tìm nhà dân để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/6/2025 Bết, J, H1 đi đến khu vực vườn điều ở làng M, xã I thì phát hiện nhà bà Rơ Châm B1 có chuồng bò không khoá cửa nên J và B2 đi vào chuồng bò tìm kiếm, H1 đứng ở vườn điều chờ. Một lúc sau J và B2 dắt 01 (một) con bò cái, lông vàng đi ra chỗ H1, rồi B2 nói H1 đi lấy xe mô tô của B2 về trước, để B2 và J dắt con bò về sau nên H1 đi ra lô cao su lấy xe mô tô và đi về nhà H1. Còn B2 và J dắt con bò về cột tại vườn điều gần nhà B2 tại làng L, xã I, tỉnh Gia Lai. Khoảng 08 giờ ngày 20/6/2025, H1 mang xe mô tô đến nhà B2 thì thấy J và B2 đang ở đây. Lúc này, B2 nói với J và H1 là khi nào bán được con bò thì chia tiền thành ba phần bằng nhau, bò đang giấu ở vườn điều gần nhà B2 thì H1 và J đồng ý và đi về.

Cùng lúc này bà B1 và gia đình phát hiện bị mất 01 con bò cái, lông vàng nên đã trình báo Công an xã I và tổ chức đi tìm. Khi nghe tin Cơ quan Công an xã I đang truy tìm nên H1 và B2 đã đến Công an xã I, tỉnh Gia Lai đầu thú, Bết giao nộp 01 con bò cái, màu vàng. Công an xã I đã tiến hành cho B2 và người bị hại xác nhận và cân trọng lượng con bò xác định con bò có trọng lượng 240 kilogam.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/K1-HĐĐG ngày 26/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện I xác định giá trị tài sản của 01 con bò vàng Việt Nam, giống cái, trọng lượng 240 kilogam là 14.800.000 đ (Mười bốn triệu, tám trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS, ngày 03 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai đã truy tố các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J phạm tội “Trộm cắp tài sản".

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ksor B2 từ 16 tháng đến 20 tháng tù.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Siu H1 từ 06 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 20 tháng.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Rơ Mah J từ 10 tháng đến 14 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã xử đúng quy định của pháp luật

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tại hồ sơ vụ án bị hại đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật; về phần bồi thường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh G, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J như sau: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 20/6/2025, các bị các Ksor Bết, Rơ Mah J và Siu H1 đã thống nhất, cùng nhau lén lút chiếm đoạt của bà Rơ Châm B1 ở làng M, xã I, tỉnh Gia Lai 01 con bò cái màu vàng có trọng lượng 240 kilogam có giá trị 14.800.000đ (mười bốn triệu, tám trăm ngàn đồng) để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên khi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện, bắt giữ.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự,

Do đó việc truy tố các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J về tội “Trộm cắp tài sản” của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng tính chất giản đơn. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện tội phạm. Trong vụ án này, Rơ Mah J có vai trò chính, là người rủ rê, khởi xướng, trực tiếp cùng B2 vào nhà bị hại Rơ Châm B1 để dắt trộm bò. Bị cáo Siu H1 đồng phạm với vai trò giúp sức nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo các Siu Hái và Rơ Mah J có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Ksor B2 nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 09/12/2021 bị Tòa án Quân sự khu vực 1 Quân khu 5 xử phạt 36 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 12/2021/HS-ST. Ngày 02/9/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Rơ Mah J và Siu H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra sau khi phạm tội bị cáo Ksor B2 và Siu H1 đã ra đầu thú, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án được thể hiện bằng việc cung cấp thông tin; chỉ nơi cất giấu vật chứng là con bò giúp cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện, giải quyết nhanh chóng vụ án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo đã hoàn thành thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là con bò trị giá 14.800.000 đồng, đã đưa vật chứng ra khỏi nơi nuôi nhốt của bị hại nên chưa gây thiệt hại là không phù hợp.

[6] Về hình phạt: Các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét đề nghị áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo Ksor B2 và Rơ Mah J ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Siu H1 thì thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt là ngoài lần phạm tội này, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam cũng không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Vì vậy cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo Siu H1 cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Rơ Châm B1 đã nhận lại tài sản bị mất. Tại phiên tòa bị hại Rơ Châm B1 vắng mặt nhưng tại hồ sơ vụ án bị hại Rơ Châm B1 không yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập.

[8] Về xử lý vật chứng: Ngày 21/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định trả lại tài sản là 01 (một) con bò vàng Việt Nam, giống cái, lông màu vàng, trọng lượng 240kg, còn sống cho bà Rơ Châm B1.

Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh G là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor B2:

    Xử phạt bị cáo Ksor B2 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/6/2025.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Rơ Mah J:

    Xử phạt bị cáo Rơ Mah J 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Siu H1:

    Xử phạt bị cáo Siu H1 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 26/11/2025).

    Giao bị cáo Siu H1 cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,

    Buộc các bị cáo Ksor B2, Siu H1 và Rơ Mah J mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/11/2025) các bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Công an tỉnh Gia Lai;

Phòng THADS Khu vực 9 - Gia Lai

(khi án có hiệu lực);

Bộ phận nghiệp vụ Công an tỉnh Gia

Lai;

Người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Khu vực 9 – Gia Lai;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TP. Hà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger