TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 04- 3- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH
DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thiện;
- Ông Phan Hồng Việt.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Vũ Quyết T (tên gọi khác: không), sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD số: [...] cấp ngày 03/8/2022; nơi thường trú: Số A, đường X, khu phố H, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: 96/2 đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức D và bà Trần Thị Thanh H; bị cáo có vợ tên Nguyễn Lan P và có 01 con (sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/11/2024 đến ngày 06/11/2024 trả tự do, sau đó bắt tạm giam từ ngày 10/11/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm: 1988; Nơi thường trú: Số B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Trương Thanh P1, ông Lê Văn L, ông Lê Ngọc S. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/11/2024, Vũ Quyết T uống bia có nồng độ cồn nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển số 94K2-172.22 để về nhà tại địa chỉ số I, đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. T điều khiển xe mô tô trên đường ĐT 743C theo hướng từ trạm thu phí B về ngã tư cầu Ô để rẽ trái ra đường Q thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời điểm này, tổ tuần tra đặc biệt 171 Công an tỉnh B đang làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông tại khu vực trên phát hiện T điều khiển xe mô tô nẹt pô nên ra hiệu lệnh dừng xe và yêu cầu T vào chốt để kiểm tra nồng độ cồn. Tại chốt kiểm tra nồng độ cồn, T xuất trình giấy phép lái xe, căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 94K2-172.22. Qua kiểm tra nồng độ cồn bằng máy đo nồng độ cồn, kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của T là 0,837 mg/01 lít khí thở nên ông Nguyễn Trọng N (thành viên trong tổ tuần tra) đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với xe mô tô biển số 94K2-172.22. Sau khi lập biên bản, T không chấp hành việc ký tên vào biên bản vi phạm hành chính nên cán bộ lập biên bản đã thông báo và mời người làm chứng ký tên vào biên bản. Sau đó, ông N yêu cầu T mở cốp của xe mô tô biển số 94K2-172.22 để kiểm tra trước khi tạm giữ phương tiện, T mở cốp xe mô tô lên rồi đóng lại ngay nên ông N tiếp tục yêu cầu T mở cốp xe mô tô để kiểm tra, T đưa tay để lấy chìa khóa xe nên ông N đưa tay ra ngăn cản lại, T dùng tay phải đẩy tay của ông N và dùng tay phải đấm một cái trúng vào vùng miệng của ông N nên các thành viên trong tổ công tác đã khống chế, bắt giữ T giao cho Công an phường B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 687/2024/KLGĐ-TTPY ngày 20/11/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh B kết luận ông Nguyễn Trọng N thương tích như sau: 02 vết thương niêm mạc môi trên 0,5x0,2cm và 0,8x0,3cm, đang lành. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trọng N tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).
Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS - TA ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vũ Quyết T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện viện kiểm sát trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Vũ Quyết T mức hình phạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không.
Quá trình điều tra xác định: Ông Nguyễn Trọng N bị thương tích với tỷ lệ 02%, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Vũ Quyết T; không yêu cầu bồi thường nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý hình sự và ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Quyết T về hành vi Cố ý gây thương tích. Hành vi điều khiển xe mô tô biển số 94K2-172.22 của Vũ Quyết T khi trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/01 lít khí thở, Phòng C Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin vắng mặt ông N xác định không có yêu cầu gì đối với việc bị cáo gây thương tích cho ông N, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, biết lỗi và xin được giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án nhẹ nhất để có điều kiện đi làm vì gia đình có hoàn cảnh quá khó khăn, vợ bị cáo đang bị trầm cảm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt, đây là yêu cầu tự nguyện của đương sự; người làm chứng vắng mặt; việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Quyết T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ ngày 05/11/2024 bị cáo đến nhà bạn ở Bình Dương để dùng tiệc. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/11/2024, bị cáo điểu khiển xe mô tô biển số 94K2-172.2 để về nhà, trong quá trình di chuyển tại Quốc lộ A thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, khi bị lực lượng chức năng dừng xe, kiểm tra thì Vũ Quyết T đã có hành vi dùng tay đấm 01 cái vào mặt (trúng vào vùng miệng) ông Nguyễn Trọng N là cán bộ Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B khi đang thi hành công vụ nhằm gây cản trở người thực thi công vụ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ, quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong vụ án này bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Vũ Quyết T phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội, gây ảnh hưởng không tốt cho hoạt động của các cơ quan công vụ, bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là vi phạm pháp luật, khi bị người có thẩm quyền thi hành công vụ kiểm tra hành chính bị cáo đã cản trở, chống trả bằng vũ lực đối với người thi hành công vụ thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có con nhỏ và vợ bị cáo đang bị bệnh. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tương đối cao. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét và xử bị cáo mức hình phạt nhẹ hơn đề nghị của đại diện viện kiểm sát, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo sửa sai, cố gắng cải tạo thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông N không yêu cầu nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 136; các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Quyết T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Quyết T 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 10/11/2024, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/11/2024 đến ngày 06/11/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp: Không.
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Quyết T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: THANG CHONG NGUUOI THI HANH CONG VU
