Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Bình;

2. Ông Nguyễn Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 170/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 12/9/1971 tại tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Nguyễn Văn N. Nơi thường trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện nay: Tổ F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Nghề nghiệp: Làm nghề tự do. Trình độ học vấn: 02/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết). Bị cáo sống như vợ chồng với chị Trần Thị M1, sinh năm 1971 và có 02 con sinh năm 2005, 2007. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo ra đầu thú và bị giam giữ từ ngày 23/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/11/1974 tại tỉnh Bắc Giang. Nơi thường trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện nay: Chân đèo M, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Làm nghề tự do. Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (không rõ năm sinh). Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị O, sinh năm 1975 và có 02 con sinh năm 1995, 1998. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo ra đầu thú và bị giam giữ từ ngày 23/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1981 (đã chết).

    Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982; chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996. (chị N1 vắng mặt; chị L và anh H có mặt).

    Cùng ngụ tại: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

  2. Anh Phạm Tấn P, sinh năm 1971. Vắng mặt.

    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 25/8/2000, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H1, Vũ Ngọc H2 và Nguyễn Văn P1 là nhóm thợ khoan giếng, cùng uống rượu với anh Hoàng Quốc P2 tại nhà ông Nguyễn Văn C thuộc ấp C, xã V (nay là xã T), huyện V, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở P2 về nhà ở ấp C. Khi đến lối rẽ vào quán karaoke của bà Đình Thị T4 tại ấp C thì bị Nguyễn Văn T3 - sinh 1981, Nguyễn Văn T5 - sinh 1982, Phạm Tấn P - sinh 1971, Huỳnh Văn Q - sinh 1978 cùng ngụ tại ấp C đi hát karaoke chặn xe lại, do nhầm tưởng Trạm là bạn của H2. Khi nhóm T5 biết không phải người quen nên đã nhường đường để T và P2 đi qua. Trạm chở P2 về nhà rồi quay lại nhà ông C tiếp tục uống rượu cùng P1, S, H1, H2. Trạm kể lại việc bị chặn xe, rồi cả nhóm thống nhất đi tìm đánh nhóm của T5. P1 cầm theo 01 con dao rựa, S và H1 mỗi người cầm 01 đoạn cây gậy, T và H2 cầm đèn pin. Nhóm T đi đến quán karaoke của bà T4, H1 và S vào phòng karaoke gọi T5. T5 đi ra thì bị H1, S, P1 đánh hụt, T5 chạy vào phòng karaoke và cùng Q thoát chạy bằng cửa sau và lên đồi tràm phía sau nhà bà T4 lẫn trốn. P đi ra thì bị T, P1, S, H1 dùng cây đánh làm P bị thương gục xuống tại cửa phòng hát karaoke. H2 thấy T, P1, H1, S đánh P quá tay nên vào can ngăn nhưng bị P1 phản đối và hăm dọa dùng dao chém. H2 tức giận và có lời nói thách thức P1 thì có T3 từ trong nhà bà T4 chạy ra đấm vào lưng của H2 một cái. H2 nhặt cây gậy dưới đất đường kính 3cm dài 60cm do nhóm T đánh P bị gãy để lại, trong tư thế cúi khom người quất ngược lên trúng vào người T3 nhưng không xác định vị trí cụ thể, T3 bỏ chạy vòng ra sau nhà bà T4. H2 vứt khúc cây dùng đánh T3 đã bị gãy làm 03 đoạn dưới sân và cùng nhóm bạn ra về. T5 và Q quay lại quán thấy P bị thương nên đưa về nhà P. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Thành D (con bà Đinh Thị T6) đi ra phía sau nhà nhìn thấy T3 đang nằm. Thiệp kêu đau bụng nên D lấy dầu xoa bụng cho T3 rồi đỡ T3 vào nằm nghỉ ở ghế bố trong nhà. Khoảng hơn một giờ sau, T3 kêu đau và nhờ D gọi Lê Văn Q1 là người chạy xe ôm đến đưa T3 về nhà. Khi Q1 chở T3 trên đường về đi ngang qua nhà Q1, T3 tiếp tục kêu đau nên Q1 đưa T3 vào nhà mình nằm nghỉ. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, T5 và Q trên đường về nhìn thấy T3 ở nhà Q1 nên vào hỏi thăm. T3 nói bị nhóm H2 đánh và đang đau ở bụng. Thiệp nhờ T5 và Q đưa T3 đi bệnh viện cấp cứu. Do T3 không mặc áo nên T5 và Q quay lại quán bà T6 lấy áo cho T3, khi quay lại để đưa T3 đi viện thì phát hiện T3 đã chết, nên trình báo Công an xã T lập hồ sơ ban đầu và thông tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp nhận giải quyết theo quy định pháp luật.

Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H1, Vũ Ngọc H2 và Nguyễn Văn P1 sau khi biết Nguyễn Văn T3 tử vong đã bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ truy nã. Ngày 23/7/2024, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S đến Công an thị trấn V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Công an lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết.

Tang vật thu giữ: 01 đoạn cây khô dài 50cm đường kính 4 cm bị gãy đôi và 04 đoạn cây khô.

Bản giám định pháp y số 178/PY, ngày 30/8/2000 của Giám định viên Phòng K1 - Công an tỉnh Đ xác định thương tích và nguyên nhân Nguyễn Văn T3 tử vong như sau: Bên ngoàiVết bầm tím không hình vùng hạ sườn bên trái. Bên T7: Tụ máu tổ chức dưới da ngang dưới vết bầm tím vùng sườn trái; trong ổ bụng có nhiều máu loãng lẫn máu cục; L1 bị vỡ ở mặt trong, mặt ngoài có kích thước đo 20cm x 12cm. Nguyên nhân chết: Choáng mất máu do bị đánh vỡ lách. Hung khí: Vật tày.

Biên bản giám định pháp y số 1045 ngày 30/11/2000 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Đồng Nai đã xác định anh Phạm Tấn P có thương tích sau: Đa chấn thương phần mềm đầu, mặt. Xếp tỷ lệ thương tật 3%.

Ngày 26/7/2001, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Vũ Ngọc H2 08 năm tù, theo Bản án số 262/HSST.

Ngày 20/9/2004, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Văn P1 04 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 539/HSST. Nguyễn Văn P1 kháng cáo, ngày 29/12/2004, Toà án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt Nguyễn Văn P1 04 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 2998/HSST.

Ngày 16/8/2006, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Văn H1 02 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 243/2006/HSST.

Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S đã bỏ trốn, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ truy nã. Ngày 23/7/2024, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S đến Công an thị trấn V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Công an lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết.

Về tang vật thu giữ và trách nhiệm bồi thường: Bản án số 262/HSST ngày 26/7/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên tịch thu tiêu hủy tang vật thu giữ; tuyên buộc Vũ Ngọc H2 bồi thường cho bà Nguyễn Thị M2 là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T3 tiền mai táng phí, tiền thiệt hại về tinh thần tổng cộng là 16.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử ngày 20/02/2025, bị cáo T đã tự nguyện bồi thường số tiền 10 triệu đồng, bị cáo S 06 triệu đồng cho gia đình anh Nguyễn Văn T3.

Bị hại Phạm Tấn P không yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, chi phí điều trị thương tích.

Tại cáo trạng số 09/CT-VKSVC, ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt mỗi bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;

Về án phí buộc các bị cáo phải chịu.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 25/8/2000, tại ấp C, xã V (nay là xã T), huyện V, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T kể lại sự việc trong lúc chở Hoàng Quốc P2 về nhà bị một số đối tượng chặn xe nên Vũ Ngọc H2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn H1 rủ nhau sử dụng hung khí là đoạn cây, dao đánh anh Nguyễn Văn T3 dẫn đến tử vong; anh Phạm Tấn P bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 03%.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, mất an ninh trật tự địa phương, đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết định khung hình phạt “dùng hung khí nguy hiểm”, “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tố bị cáo là có căn cứ.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội đã bỏ trốn nhưng đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để các bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, quyết định hình phạt và biện pháp ngăn chặn:

Các bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm vai trò giúp sức, bị truy tố về cùng tội danh, nên hình phạt tương đương nhau.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của từng bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.

[5] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

[5.1] Việc xác định Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T3:

Theo biên bản xác minh tại địa phương thì bị hại Nguyễn Văn T3 (đã chết) chưa có vợ con, có mẹ là bà Nguyễn Thị M2 (đã chết); không có thông tin gì về cha, ông bà nội ngoại. Anh T3 có 03 người em cùng mẹ khác cha là chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982, chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993 và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996. Do đó, Tòa án xác định chị N1, chị L và Anh H là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T3.

[5.2] Việc áp dụng pháp luật:

Thời điểm xảy ra tội phạm là ngày 25/8/2000, do đó áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để xét xử về tội danh đối với các bị cáo.

[5.3] Về tang vật thu giữ và trách nhiệm bồi thường:

Tang vật thu giữ và bồi thường cho bà Nguyễn Thị M2 là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T3 đã được giải quyết tại Bản án số 262/HSST, ngày 26/7/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử ngày 20/02/2025, bị cáo T đã tự nguyện bồi thường số tiền 10 triệu đồng, bị cáo S 06 triệu đồng cho gia đình anh Nguyễn Văn T3.

Bị hại Phạm Tấn P không yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, chi phí điều trị thương tích, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải nộp.

[7] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích".

  2. Hình phạt và biện pháp ngăn chặn:
    1. Hình phạt: Căn cứ khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.

    2. Biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

      Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để bảo đảm thi hành án.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Các bị cáo, người người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger