TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 20/11/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Hoàng Mích.
2. Ông Nguyễn Hồng Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
1. Ông Lê Văn Nếu - Kiểm sát viên.
2. Ông Lê Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Quốc D, sinh ngày 01/02/2002; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); Nơi cư trú: 177/MT, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Thế V và bà Võ Thị Hồng N; Vợ, con: Chưa có; Có 01 người em sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 16/4/2025, bị Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt số tiền 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, tỉnh Vĩnh Long từ ngày 26/8/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Võ Vũ L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T2, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970;
Nơi cư trú: ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Hoàng C, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/5/2025, Bùi Quốc D đang nằm chơi trước nhà thuộc ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long) thì thấy vợ chồng chị Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1970 và anh Phạm Văn T - sinh năm 1975 (cách nhà D khoảng 100m) chạy xe ngang, nên D nảy sinh ý định đột nhập vào nhà chị L1 lấy trộm tài sản. D đi bộ lại nhà chị L1 rồi theo lối rào bên hông trái nhà đi vòng ra phía sau nhà. Thấy nhà chị L1 không có đóng khoá cửa sau, nhưng phía trên có gắn camera nên D đến lấy chiếc ghế nhựa đứng lên rút dây nguồn camera rồi đi vào nhà trước lục tìm tài sản nhưng không tìm được. Sau đó, D đi xuống nhà lá phía sau thì phát hiện chiếc điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 của chị L1 đang sạc để trên giường nên lấy bỏ vào túi quần rồi ra về. Sau đó, D tháo bỏ sim và đem chiếc điện thoại vừa trộm được đến tiệm Đ ở ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long) bán cho anh Phạm Hoàng C – sinh năm 1989 được 600.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, vợ chồng chị L1 trở về nhà phát hiện mất điện thoại nên kiểm tra camera và tố giác hành vi của D đến Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long).
Vật chứng và tài sản thu giữ, gồm:
- Của Nguyễn Thị L1 (đã xử lý): 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh, không có thẻ sim, số IMEI 1: 357026895668410, số IMEI 2: 3574412785668415 do Phạm Hoàng C giao nộp; 01 sim điện thoại Viettel số 0977.522.xxx thu giữ được trong quá trình truy tìm vật chứng.
- Của Bùi Quốc D (chưa xử lý): 01 điện thoại di động hiệu SONY XPERIA màu vàng có sim số 0703800321, số IMEI: 358127071029077 được niêm phong trong phong bì; 01 áo thun nam màu xanh xám, phía trước ngực trái có chữ “GUCCC”, 01 quần thun nam ngắn màu đen, phía trước đùi trái có chữ màu trắng “SPORT”, 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đỏ, bên trái phía trước có chữ “PUMA” màu đen được niêm phong trong thùng giấy. Phong bì, thùng giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 24/5/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long) kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh, số IMEI 1: 357026895668410, số IMEI 2: 3574412785668415 đã qua sử dụng giá trị là 800.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSKV8 ngày 13/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Bùi Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Bùi Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị;
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quốc D từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Giao trả 01 điện thoại di động hiệu SONY XPERIA màu vàng có sim số 0703800321, số IMEI: 358127071029077 được niêm phong trong phong bì có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long) cho Bùi Quốc D.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun nam màu xanh xám, phía trước ngực trái có chữ “GUCCC”, 01 quần thun nam ngắn màu đen, phía trước đùi trái có chữ màu trắng “SPORT”, 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đỏ, bên trái phía trước có chữ “PUMA” màu đen được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long) của Bùi Quốc D do bị cáo không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.
- - Ghi nhận CQĐT đã xử lý giao trả: 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh, không có thẻ sim, số IMEI 1: 357026895668410, số IMEI 2: 3574412785668415 và 01 sim điện thoại Viettel số 0977.522.xxx cho bị hại Nguyễn Thị L1.
- Về trách nhiệm dân sự:
- - Ghi nhận bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm.
- Ghi nhận Bùi Quốc D đã bồi thường cho anh Phạm Hoàng C số tiền 600.000đ nên anh C không yêu cầu gì.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quốc D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh của chị Nguyễn Thị L1 với diễn biến như nội dung Cáo trạng đã xác định. Bị cáo xin nhận lại 01 điện thoại di động hiệu SONY XPERIA màu vàng và không có yêu cầu nhận lại 01 áo thun nam màu xanh xám, 01 quần thun nam ngắn màu đen, 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đỏ. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Về trách nhiệm hình sự, chị L1 yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng C đã nhận số tiền bồi thường 600.000 đồng từ bị cáo nên anh C không có yêu cầu gì thêm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Người bào chữa thống nhất tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, mong HĐXX xem xét thêm hoàn cảnh gia đình của bị cáo để cân nhắc áp mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên là 06 tháng tù cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất tranh luận của người bào chữa, không tranh luận gì thêm.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Kiểm sát viên tranh luận: Đối với tranh luận của người bào chữa cho bị cáo thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên nên Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi của bị cáo, bị cáo mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B (cũ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Vĩnh Long), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Bùi Quốc D tại tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu liên quan do Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do động cơ tư lợi bất chính, nên Bùi Quốc D là người bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa tiền sự đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 trị giá 800.000 đồng của chị Nguyễn Thị L1. Vụ việc xảy ra vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/5/2025 tại nhà chị L1 thuộc ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Bùi Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải tốn sức lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và hậu quả xảy ra đúng như bị cáo mong muốn. Việc làm của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, mỗi khi sơ hở sẽ bị kẻ gian lén lút chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần xử lý bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, mới đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn do tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận. HĐXX sẽ xem xét các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[6] Đối với đề nghị mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo là quá nghiêm so với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã thực hiện. HĐXX xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối chiếu theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng C đã nhận được số tiền bồi thường 600.000 đồng từ bị cáo và cả hai không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên được HĐXX ghi nhận.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu SONY XPERIA màu vàng có sim số 0703800321, số IMEI: 358127071029077 được niêm phong trong phong bì có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long), do chiếc điện thoại này không liên quan đến vụ án nên việc bị cáo có yêu cầu nhận lại là phù hợp với quy định pháp luật, được HĐXX chấp nhận.
- - Đối với 01 áo thun nam màu xanh xám, phía trước ngực trái có chữ “GUCCC”, 01 quần thun nam ngắn màu đen, phía trước đùi trái có chữ màu trắng “SPORT”, 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đỏ, bên trái phía trước có chữ “PUMA” màu đen được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long) của Bùi Quốc D, do bị cáo không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu tiêu huỷ.
- - Cơ quan điều tra đã giao trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 màu xanh, không có thẻ sim, số IMEI 1: 357026895668410, số IMEI 2: 3574412785668415 và 01 sim điện thoại Viettel số 0977.522.xxx cho bị hại Nguyễn Thị L1 là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.
[9] Đối với Phạm Hoàng C có hành vi mua điện thoại của Bùi Quốc D nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với C là phù hợp.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Phạt bị cáo Bùi Quốc D 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 20/11/2025.
Giao bị cáo Bùi Quốc D cho Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự;
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu SONY XPERIA màu vàng có sim số 0703800321, số IMEI: 358127071029077 được niêm phong trong phong bì có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long).
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun nam màu xanh xám, phía trước ngực trái có chữ “GUCCC”, 01 quần thun nam ngắn màu đen, phía trước đùi trái có chữ màu trắng “SPORT”, 01 nón lưỡi trai bằng vải màu đỏ, bên trái phía trước có chữ “PUMA” màu đen được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thành T1, Bùi Quốc D, Phạm Hoàng C và hình dấu tròn Công an xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long).
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Bị cáo Bùi Quốc D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Triều |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do động cơ tư lợi bất chính, nên Bùi Quốc D là người bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa tiền sự đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12 trị giá 800.000 đồng của chị Nguyễn Thị L1. Vụ việc xảy ra vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/5/2025 tại nhà chị L1 thuộc ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp M, xã M, tỉnh Vĩnh Long). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Bùi Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
