Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 17 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Văn Hải và bà Trương Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025.

Đối với bị cáo: Nguyễn Thị L, sinh ngày 16/7/1970 tại tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: thôn C, xã V, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L1 và bà Lê Thị P (đã chết); chồng là Lê Ngọc A (đã chết) và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

* Bị hại: chị Lê Thị T, sinh năm 1985; trú tại: thôn L, xã H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

* Người làm chứng: chị Hoàng Thị M (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 07/8/2025, chị Lê Thị T đến chợ C cũ thuộc thôn M, xã V, tỉnh Thanh Hóa và vào cửa hàng bán quần áo của chị Hoàng Thị M để chọn mua quần áo. Trong lúc chọn quần áo, chị T để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu trắng, ốp diện thoại màu đen tại mặt trên của tủ kính cửa hàng. Lúc này, tại cửa hàng còn có Nguyễn Thị L cũng đến để mua quần áo. Nhìn thấy chiếc điện thoại để trên tủ kính không có người trông coi, L đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. L tiến lại gần tủ, cầm chiếc điện thoại bỏ vào túi áo chống nắng đang mặc rồi ra lấy xe đi về nhà. Khoảng 10 phút sau, chị T quay lại tìm thì không thấy điện thoại nên đã trình báo sự việc với Công an xã V, tỉnh Thanh Hoá.

Nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên ngày 09/8/2025 Nguyễn Thị L đã đến Công an xã V đầu thú về hành vi phạm tội của mình và đồng thời giao giao nộp chiếc điện thoại di động đã trộm cắp.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu trắng, ốp điện thoại màu đen.

Tại kết luận định giá tài sản số: 298/KL-HĐĐG, Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự UBND tỉnh T kết luận: áp dụng chia bình quân trên 03 phiếu khảo sát giá do Cơ quan CSĐT cung cấp, chiếc điện thoại tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 9.000.000đ (chín triệu đồng).

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 05/CT-VKSKV5 ngày 28/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Thị L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, bị hại là chị Lê Thị T và người làm chứng vắng mặt mặc dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại và người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 07/8/2025, tại chợ C thuộc thôn M, xã V, tỉnh T. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Lê Thị T, Nguyễn Thị L đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu trắng, ốp màu đen, có giá trị 9.000.000đ (chín triệu đồng). Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Thị L đã đến Công an xã V, tỉnh Thanh Hóa đầu thú.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị L đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực TNHS, bản thân nhận thức rõ hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích chiếm đoạt cá nhân.

Về các tình tiết tăng nặng TNHS: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ TNHS: quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đầu thú; ngoài ra, bị cáo còn được bị hại đề nghị giảm nhẹ TNHS. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không phải chịu tình tiết tăng nặng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS. Ngoài ra, bị cáo có lý lịch rõ ràng và có nơi cư trú ổn định. Do đó, không cần thiết phải cách ly ra ngoài đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

* Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 06 (sáu) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát, giáo dục và giao cho Công an xã V, tỉnh Thanh Hóa tham mưu và trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Thị L trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

* Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136; điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn thời 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 5 – Thanh hóa;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQ THAHS CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger