|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày: 16/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ánh Hồng, Bà Hoàng Thị Huyền
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Hoàng Văn H, sinh ngày 24/4/1983 (tên gọi khác không);
- Bùi Văn T, sinh ngày 03/10/1990 (tên gọi khác không);
- Hoàng Văn L1, sinh ngày 12/9/1984 (tên gọi khác không);
- Hoàng Bình Q, sinh ngày 10/12/1994 (tên gọi khác không);
Nơi cư trú: xóm T, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L, sinh năm 1958, con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1957; vợ: Nông Thị Đ, sinh năm 1977 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 04/03/2024.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: xóm T, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1965, con bà Hoàng Thị M, sinh năm 1966; vợ: Ngân Thị D, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 01 con Trần Tuấn N, sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 04/03/2024.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: xóm T, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S (đã chết), con bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1956; vợ: Bùi Thị T2, sinh năm 1991 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 04/03/2024.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: xóm T, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: công chức; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C, sinh năm 1968, con bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thúy H2, sinh năm 1994 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 04/03/2024.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 27/02/2024, Hoàng Văn H cùng Hoàng Văn L1, Bùi Văn T uống nước tại tầng 1 nhà H. Lúc này H rủ L1, T dánh bạc ăn tiền T, L1 đồng ý. H gọi thêm Hoàn Bình Q1 đến chơi. Khoảng 15 giờ cùng ngày H, L1, T lên tầng 2 nhà H, H lấy bộ tài tú lơ khơ 52 quân để sẵn ở phản gỗ cùng đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền Việt Nam đồng, một lúc sau thì Q1 đến cùng tham gia đánh bạc. H, L1, T, Q1 đánh bạc đến 21 giờ 15 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là 5.460.000đ (năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng và 52 quân bài tú lơ khơ.
Thông báo kết quả giám định số 148/TB-BBI, ngày 07/3/2024 của Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh H kết luận số tiền 5.460.000₫ (năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng là tiền thật do Ngân hàng N2 phát hành.
Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 27/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố các bị cáo Bùi Văn H3, Bùi Văn T, Hoàng Văn L1, Hoàng Bình Q về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng như bản cáo trạng; Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn H, Hoàng Bình Q.
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 07 (Bảy) đến 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 14 (Mười bốn) đến 28 (Hai mươi tám) tháng.
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Bình Q từ 06 (Sáu) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn T3, Hoàng Văn L1.
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T3 từ từ 06 (Sáu) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L1 từ 06 (Sáu) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
- + Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 5.460.000đ (năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.
- + Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ.
- - Về án phí: đề nghị tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo H, T3, L1, Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo xin được giảm hình phạt và xin được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Văn H, Bùi Văn T, Hoàng Văn L1, Hoàng Bình Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: từ khoảng 15 giờ đến 21 giờ 15 phút, ngày 27/02/2024, tại nhà Hoàng Văn H, các bị cáo H, T, L3, Q đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Số tiền thu giữ dưới chiếu bạc là 5.460.000đ (Năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Xét các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự địa phương, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc đã đủ cấu thành tội phạm “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Đối với bị cáo Hoàng Văn H có bố là ông Hoàng Văn L4 trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự đã có nhiều thành tích và được tặng Bằng khen của Bộ Trưởng Bộ Q2; được Nhà nước tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Hoàng Bình Q, trong thời gian công tác tại UBND xã N đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Chủ tịch UBND xã N và Chủ tịch UBND huyện L tặng nhiều giấy khen, đây được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Về vai trò và mức hình phạt đối với các bị cáo: trong vụ án các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, thống nhất, phân công từ trước do vậy hành vi đánh bạc của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.
Tuy nhiên bị cáo Hoàng Văn H là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ để thực hiện hành vi phạm tội do vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác. Đối với các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Văn L1, Hoàng Bình Q phải chịu trách nhiệm hình sự tương sứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đã gây ra cho xã hội.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng do vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện kinh tế gia đình các bị cáo còn nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền với các bị cáo.
[6] Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý cụ thể như sau:
- - Đối với số tiền 5.460.000đ (năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng, thu giữ trên chiếu bạc là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần được tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 52 (Năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Vế án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn H, Bùi Văn T, Hoàng Văn L1, Hoàng Bình Q phạm tội: “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn H 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn L1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Văn T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Bình Q 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Hoàng Văn H, Bùi Văn T, Hoàng Văn L1, Hoàng Bình Q cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.460.000đ (năm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.
- - Tịch thu tiêu huỷ 52 (Năm mươi hai) quân bài tú lơ.
Đặc điểm vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn H, Bùi Văn T, Hoàng Văn L1, Hoàng Bình Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trung |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Vũ Văn Trung |
6
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc
