Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HÒA

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 6 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Văn Hào

2. Bà Phan Thị Thanh Thuỷ

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Thoa- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 03/6/2025, đối với bị cáo:

Trương Xuân T

Họ và tên: Trương Xuân T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 03 tháng 8 năm 1992, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Xuân T1 (đã chết) và con bà Đoàn Thị L, sinh năm 1960; Vợ Trương Thị S, sinh năm: 1990; Con: Có 01 con sinh năm 2013; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 3 năm 2025, đến nay (có mặt).

Tiền án: Ngày 31/8/2022, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chấp hành xong hình phạt ngày 01/7/2023; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963

Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Ông Phan Huy K, sinh năm 1943

Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An;

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1943;

Trú tại: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Chị Trương Thị M1, sinh năm 1984

Trú tại: Xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An;

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+Anh Trần Nam T2, sinh năm 1981

Trú tại: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An;

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người chứng kiến:

+ Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982

Trú tại: Xóm H, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An;

Vắng mặt.

+ Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1972

Trú tại: Xóm T, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An;

Vắng mặt

+ Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1967

Trú tại: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ an.

Vắng mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 28/02/2025, Trương Xuân T đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, biển kiểm soát: 53V1- 0054 (Thảo mượn của anh Trần Nam T2, sinh năm 1981, trú tại xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) đến khu vực Bệnh viện Đ (thuộc xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An). Khi đến bệnh viện, Trương Xuân T đưa xe mô tô vào khu vực nhà để xe của Bệnh viện và gửi xe mô tô tại đây rồi đi vào khu vực điều trị của Bệnh viện với mục đích trộm cắp tài sản. Trương Xuân T đi vào phòng bệnh nhân khu vực tầng 3 thuộc Khoa ngoại tổng hợp để ngủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/3/2025, T thức dậy đi vòng quanh các tầng 2, tầng 3 và tầng 5 trong khu vực điều trị nội trú của bệnh viện lợi dụng lúc mọi người đang ngủ để trộm cắp tài sản. Tại tầng 3, Trương Xuân T đi vào phòng điều trị của Khoa N lấy trộm 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu xanh, số imei 1: 341196181400249 đã qua sử dụng của ông Nguyễn Văn M (sinh năm 1963, trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An). T tiếp tục đi lên tầng 5, vào phòng điều trị của Khoa Nội tổng hợp lấy trộm 01(một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy A03S, màu xanh, số seri: R9PT306QFPN, số imeil:351574189053316, số imei 2: 356247279053315, đã qua sử dụng của ông Nguyễn Văn B (sinh năm 1943, trú tại xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Tiếp đó T đi vào phòng cấp cứu số 4 của khoa Tim mạch lấy trộm 01 (một)

chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Mi màu xanh đen, số seri: R58MC40F77A, số imei 1: 358470/10/171505/3, số imei 2: 358471/10/171505/1, đã qua sử dụng của ông Phan Huy K (sinh năm 1943, trú tại xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An). Trương Xuân T đi xuống khu vực tầng 2 lấy trộm 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 12F, màu xám, số imei 1: 868998071458638, số imei 2 868998071458620, đã qua sử dụng của chị Trương Thị M1 (sinh năm 1984, trú tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ an). Nhận được nguồn tin về tội phạm Công an xã N đã cử tổ công tác xuống hiện trường để xác minh làm rõ. Vào 06 giờ 20 phút, ngày 01/3/2025 khi tổ công tác Công an xã N đang làm việc với tổ bảo vệ của Bệnh viện Đ thì phát hiện thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên mời làm việc. Quá trình làm việc biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình nên T đã tự nguyện lấy ra trong túi áo khoác đen phía ngực trái của mình ra 04 (bốn) chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được giao nộp cho tổ công tác Công an xã N. Công an xã N đã lập biên bản làm việc, sau đó yêu cầu T về trụ sở Công an xã N để làm việc. Đến khoảng 07h 45 phút cùng ngày, nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nên Trương Xuân T đến Công an xã N, thị xã T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp 04(bốn) chiếc điện thoại di động mà T vừa trộm cắp được.

Tại kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS của UBND thị xã T, tỉnh Nghệ An ngày 03/03/2025 kết luận:

01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S, màu xanh, số seri: R9PT306QFPN, số imei 1: 351574189053316, số imei 2: 356247279053315, đã qua sử dụng trị giá: 2.300.000₫ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng).

01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, màu xanh đen, số seri: R58MC40F77A, số imei 1: 358470/10/171505/3, số imei 2: 358471/10/171505/1, đã qua sử dụng, trị giá: 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng).

01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Renno 12F, màu xám, số imei 1: 868998071458638, số imei 2: 868998071458620, đã qua sử dụng, trị giá: 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu xanh, số imei 1: 341196181400249, đã qua sử dụng, trị giá: 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn dong).

Như vậy, tổng số tài sản mà Trương Xuân T đã trộm cắp vào ngày 01/3/2025 là 04 (bốn) chiếc điện thoại di động các loại, có trị giá : 8.800.000đ (Tám triệu tám trăm nghìn đồng).

Ngày 26/4/2025, cơ quan CSĐT Công An tỉnh N có yêu cầu Hội đồng định giá- UBND thị xã T định giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu tím, BKS: 53V1-0054 mà Trương Xuân T mượn của anh Trần Nam T2. Ngày 28/4/2025, Hội đồng

định giá- UBND thị xã T xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dreem, màu tím, BKS: 53V1-0054, có trị giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, xét thấy việc trả lại tài sản cho các bị hại là chủ sở hữu không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, nên ngày 16/4/2025, cơ quan CSĐT Công An tỉnh N đã trả lại 04 (bốn) chiếc điện thoại di động gồm: Sam sung G A03S, Sam sung G, Oppo Reno A, Vivo Y21 cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa đã truy tố bị cáo Trương Xuân T về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Xuân T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trương Xuân T từ 12 ( mười hai) đến 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 02/3/2025.

Về Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại: Ông Phan Huy K, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn M và chị Trương Thị M1 đã nhận lại đầy đủ 04 (bốn) chiếc điện thoại bị trộm cắp nên không yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm do đó đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về vật chứng vụ án: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Nam T2 có đơn xin nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu tím, BKS: 53V1-0054 mà bị cáo Trương Xuân T mượn của anh Trần Nam T2.

Thấy rằng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu tím, BKS: 53V1-0054, số khung: 1170581, số máy 1170781, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định; Đây là chiếc xe do anh Trần Nam T2 mua lại của một người tên H1 khi anh T2 đi làm việc tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chiếc xe được đăng ký mang tên Phan Gia L1 (trú tại xóm I Huỳnh Khương An P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra đã xác minh người có tên là Phan Gia L1 (trú tại xóm I Huỳnh Khương An P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh) nhưng ở địa chỉ trên không có người nào có tên trên. Cơ quan CSĐT công an tỉnh N đã rà soát, xác minh xem đây có phải là vật chứng của vụ án nào không, nhưng chưa có kết quả. Thấy rằng anh T2 không phải là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô trên, vì vậy cần giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu (DVD) bên trong lưu 07 (bảy) đoạn video liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Trương Xuân T, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án nay đề nghị tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.

Đối với anh Trần Nam T2, anh T2 có cho bị cáo T mượn xe mô tô, tuy nhiên anh T2 không biết việc T dùng mô tô để đi trộm cắp tài sản nên anh T2 không phạm tội.

Quá trình điều tra, xác định T có sử dụng ma tuý, số ma tuý mà T sử dụng là T mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi ở khu vựcĐập tràn, xã T, thị xã T. Quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ của người bán ma tuý cho bị cáo nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.


NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:


Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của phù hợp với lời khai của những bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra cũng như vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó đã đủ sơ sở để xác định được ngày 01 tháng 3 năm 2025, bị cáo Trương Xuân T đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của những người đang đi điều trị bệnh ở Bệnh viện Đ. T đã lén lút thực hiện bốn hành vi trộm cắp tài sản. Cụ Thể: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/03/2025, Trương Xuân T đã thực hiện hành vi trộm cắp 04 ( bốn) chiếc điện thoại di động của những người bị hại là chị Trương Thị M1, ông Phan Huy K, ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Văn M. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt là 8.800.00đ ( tám triệu, tám trăm nghìn đồng). Do đó hành vi của bị cáo Trương Xuân T đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 – BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Xuân T thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản, gây bất bình trong xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng với bản chất lười lao động, ham chơi nhưng lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện

hành vi phạm tội. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo thực hiện 4 hành vi trộm cắp tài sản, trong đó có hai hành vi trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Bị cáo phạm tội khi chưa được xoá án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1Điều 52- BLHS; sau khi phạm tội biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình nên khi bị cơ quan Điều tra mời làm việc bị cáo đã tự nguyện giao nộp 04 chiếc điện thoại cho cơ quan Công an nên bị cáo không được được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51- BLHS. Tuy nhiên cũng xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Xét thấy cần cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 - BLHS thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo chiếm đoạt 04 chiếc điện thoại di động trị giá 8.800.000đ, các bị hại là chị Trương Thị M1, ông Phan Huy K, ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Văn M đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét;

[7] Vật chứng vụ án:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Nam T2: Xin nhận lại 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu tím, BKS: 53V1-0054, số khung: 1170581, số máy 1170781, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định; Đây là chiếc xe do anh Trần Nam T2 mua lại của một người tên H1 khi anh T2 đi làm việc tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Do xe giá trị không lớn nên không làm giấy tờ mua bán xe.

Chiếc xe trên được đăng ký mang tên Phan Gia L1 (trú tại xóm I Huỳnh Khương An P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra đã xác minh người có tên là Phan Gia L1 (trú tại xóm I Huỳnh Khương An P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh) nhưng ở địa chỉ trên không có người nào có tên trên. Cơ quan CSĐT công an tỉnh N đã rà soát, xác minh xem đây có phải là vật chứng của vụ án nào không, nhưng không có kết quả. Cơ quan quan Điều tra đã xác minh không có

người nào tên H1 ở xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ an; anh Trần Nam T2 là người thường xuyên sử dụng chiếc xe trên.

Thấy rằng anh T2 không phải là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô trên, vì vậy cần giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục quản lý để xử lý theo quy định của pháp luật.

+ 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu (DVD) bên trong lưu 07 (bảy) đoạn video đến hành vi trộm cắp tài sản của Trương Xuân T, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án nay đề nghị tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Trần Nam T2, anh T2 có cho bị cáo T mượn xe mô tô, tuy nhiên anh T2 không biết việc T dùng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản nên anh T2 không phạm tội.

Quá trình điều tra, xác định T có sử dụng ma tuý, số ma tuý mà T sử dụng là T mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu V, xã T, thị xã T. Quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ của người bán ma tuý cho bị cáo nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trương Xuân T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam ngày 02 tháng 3 năm 2025.

  2. Về vật chứng vụ án: Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp tục quản lý để xử lý: 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu tím, BKS: 53V1-0054, số khung: 1170581, số máy 1170781 đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Phan Gia L1 (trú tại xóm I Huỳnh Khương An P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh). Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 02/6/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.

    Tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án: 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu (DVD) bên trong lưu 07 (bảy) đoạn video liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Trương Xuân T được niêm phong theo đúng quy định vào túi niêm phong.

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trương Xuân T phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND thị xã Thái Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa ;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Thái Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Trương Xuân Thảo - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger