Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 11 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị T.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đ và ông Lê Xuân Th
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Th - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.
  • - Đại diện VKSND huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương D - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/3/2025, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Yê, tỉnh H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST -HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Ma Thị H, sinh năm 1998; HKTT: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ma Doãn T (đã chết) và bà Lăng Thị V, sinh năm 1965; bị cáo là con duy nhất; Chồng: Trần Văn C, sinh năm 1993 (Đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023 (Đã cho làm con nuôi người khác); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Lê Thị Thanh H1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt

* Bị hại:

  1. Anh Sìn A Q, sinh ngày 06/6/2007

Người đại diện theo pháp luật của anh Q: Ông Xìn A C1, sinh năm: 1979 - Là bố đẻ. Đều trú tại: Thôn K, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

  1. Anh Ly Quãng S, sinh năm 2003

Trú tại: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang.

  1. Anh Giàng A T1, sinh năm 2003

Trú tại: Thôn T, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Đều vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thành S1, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Trú tại: Số nhà D, tổ I, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

Anh Lưu Xuân T2, sinh năm 2001. Vắng mặt.

HKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội chuyển nguồn tin tố giác tội phạm theo đơn trình báo của anh S2 A Q, sinh năm 2007, trú tại: Thôn K, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang về việc bị Ma Thị H, sinh năm 1998, HKTT: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển số: 23AY-042.27 trên địa bàn huyện Y, cùng vật chứng gồm 01 điện thoại Sam sung Galaxy A12, màu xanh của H và 01 đăng ký xe mô tô biển số 23AY-042.27 và 01 căn cước công dân cùng mang tên anh S2 A Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết.

Ngày 25/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội chuyển vật chứng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển số 23AY-042.27 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Exciter màu xanh, biển số 23F1-169.83 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối tháng 9/2024, do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Ma Thị H, sinh năm 1998, trú tại: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang thuê trọ tại khu phố P, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đã nảy sinh ý định sử dụng tài khoản Facebook để tìm người kết bạn, nói chuyện làm quen với những người nam giới, sau đó sẽ hẹn họ đón H đi chơi. Trong quá trình đi chơi H sẽ tìm cách đưa ra lý do gian dối để họ giao xe mô tô rồi chiếm đoạt. Sau đó, để thực hiện hành vi phạm tội, H sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh của H đăng nhập, sử dụng 03 (ba) tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Hoàng Y”, “Linh Tọc” và “Xink Ek” (Các tài khoản H đều không để tên thật và ảnh đại diện thật của H). Hằng tìm kiếm, kết bạn rồi nói chuyện làm quen với các đối tượng nam giới. Đồng thời để tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được, H tìm kiếm trong hội nhóm “Mua bán xe không giấy tờ” trên mạng xã hội Facebook thì được tài khoản tên “V1” (Không rõ nhân thân, lai lịch) giới thiệu cho H đối tượng thu mua xe mô tô không giấy tờ là Nguyễn Thành S1, sinh năm: 1994, trú tại: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Vụ thứ nhất: Ngày 08/10/2024, sau khi kết bạn trên Facebook, H nhắn tin qua ứng dụng Messenger từ tài khoản tên “Hoàng Y” tới tài khoản tên “Trai Thất Nghiệp” của anh Sìn A Q, sinh ngày 06/6/2007; HKTT: Thôn K, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Sau đó H và anh Quy kết bạn qua ứng dụng Zalo để nói chuyện và hẹn nhau đi chơi tại khu vực huyện Y, tỉnh Hưng Yên vào buổi tối ngày 21/10/2024. Đến chiều ngày 21/10/2024, H thuê chiếc taxi chở đi từ nhà trọ ở thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực cây xăng ở vòng xuyến huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì xuống xe gửi định vị vị trí qua Zalo cho anh Q đến đón. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển số 23AY-042.27 của anh Q đến đón H, H nói dối với anh Q mẹ H đang thuê trọ ở gần đó và bảo anh Q chở đến để lấy đồ. Sau đó anh Q điều khiển xe đi theo sự chỉ dẫn của H, khi đến khu vực trước cửa quán ăn “Huy Mẹt” ở thôn T, thị trấn Y, huyện Y thì H tiếp tục nói dối sợ mẹ H thấy anh Q chở H sẽ mắng nên bảo anh Q cho mượn xe để H tự đi lấy đồ rồi quay lại ngay thì anh Q đồng ý giao xe cho H. H điều khiển xe bỏ đi, sau đó H liên hệ rồi đến điểm hẹn tại khu vực phố N, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội bán xe cho Nguyễn Thành S1 được số tiền 9.000.000đồng. Trong lúc chờ S1 đến, H mở cốp xe ra thì thấy bên trong có đăng ký của chiếc xe mô tô trên và căn cước công dân của anh Q nhưng do thỏa thuận trước là bán xe không giấy tờ nên H cất đăng ký xe và căn cước của anh Q đi và chặn toàn bộ liên lạc của Q.

Vụ thứ hai: Vào ngày 07/10/2024, sau khi kết bạn trên Facebook, H nhắn tin qua ứng dụng Messenger từ tài khoản tên “Hoàng Y” tới tài khoản tên “Đẹp ZT'rai ZTừ ZBé” của anh Giàng A T1, sinh năm: 2003, trú tại: Thôn T, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang, ở trọ tại: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh để làm quen. Sau đó H gửi đường dẫn đến tài khoản Zalo của H để anh T1 kết bạn và tiếp tục nói chuyện. H nói dối với anh T1 mình tên là Y, sinh năm: 2005, ở huyện Y, tỉnh Hà Giang, đang làm việc tại thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, để lừa đảo anh T1 thì H thường xuyên nhắn nội dung với mục đích để anh T1 đến đón H đi chơi. Sau nhiều lần rủ thì H và anh T1 hẹn nhau đến khoảng 21 giờ ngày 09/10/2024, anh T1 sẽ đến đón H tại khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó H đến khu C gửi định vị vị trí cho anh T1 đến đón. Anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 23K1 - 111.98 của anh T1 đi một mình đến đón H. Sau đó, H ngồi sau chỉ đường cho anh T1 đi đến khu vực xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội. Khi đến đoạn đường mới 40m ở gần cánh đồng thôn Y, xã Y, thấy địa điểm vắng người, thuận lợi để lấy xe của anh T1 nên H nói dối với anh T1 cho H mượn xe để tự đi vào khu trọ mẹ H đang thuê gần đó lấy quần áo, điện thoại rồi ra ngay thì anh T1 đồng ý cho H mượn xe nhưng không đưa giấy tờ xe. H điều khiển xe bỏ đi, trên đường đi H có dừng xe có kiểm tra thì không thấy trong xe có giấy tờ, tài sản. H đã bán chiếc xe mô tô này cho S1 được 8.000.000 đồng nhưng S1 không thừa nhận mua xe của H. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của anh T1 thì H chặn toàn bộ liên lạc của anh T1.

Vụ thứ ba: Vào ngày 08/10/2024, sau khi kết bạn trên Facebook, H nhắn tin qua ứng dụng Messenger từ tài khoản tên “Hoàng Y” tới tài khoản tên “CáOx’a Đê” của anh Ly Quãng S, sinh năm: 2003, HKTT: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang (Nơi ở hiện tại: TDP S, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên) để làm quen, nói chuyện. H nói dối với anh S mình tên là Y, sinh năm: 2005, quê ở huyện M, tỉnh Hà Giang đang làm việc tại tỉnh Bắc Ninh. Để lừa đảo, H thường xuyên nhắn nội dung với mục đích gạ gẫm để anh S đến đón H đi chơi. Sau nhiều lần rủ thì đến khoảng 19 giờ ngày 18/10/2024, H và anh S hẹn nhau anh S sẽ đến đón H tại khu vực ngã tư B, thị xã M đi chơi rồi H lại hẹn anh S đón ở khu vực gầm cầu vượt đường QL5 tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Sau đó, H thuê taxi đi từ nơi ở tại khu phố P, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đến gần cầu vượt Quốc lộ E thì xuống xe. H nhắn tin và gửi định vị vị trí bảo anh S đến đón H. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, anh S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Exciter màu xanh, biển số 23F1-169.83 của anh S đi một mình đến đón H. Sau đó, H ngồi sau xe nói dối bảo anh S chở H vào nhà bạn tại tổ dân phố V, phường B để lấy chiếc điện thoại H để quên tại đó. Khi đến đường P, thấy vắng người thì H bảo anh S cho H mượn xe để tự đi lấy điện thoại rồi về ngay thì anh S đồng ý giao xe cho H nhưng không đưa giấy tờ xe. Sau khi chiếm đoạt được xe thì H bỏ đi, trên đường đi H có kiểm tra thì không thấy trong xe có giấy tờ, tài sản. H liên hệ rồi đến điểm hẹn tại khu vực phố N, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội bán xe cho Nguyễn Thành S1 với giá thỏa thuận là 8.000.000đồng. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe mô tô thì H chặn toàn bộ liên lạc của anh S.

Ngày 25/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét tại nơi ở trọ của H ở khu phố P, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-ĐG ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, gắn BKS: 23AY - 042.27, mua mới vào tháng 09/2024 và đăng ký lần đầu vào ngày 03/10/2024 có giá trị tại thời điểm tháng 10/2024 là 19.500.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 71/KL-ĐG ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã M, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, gắn BKS: 23F1-169.83 đăng ký vào ngày 15/11/2022 (Xe đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm ngày 18/10/2024 là 32.800.000đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 54/KL-ĐG ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, gắn BKS: 23K1-111.98, mua mới và đăng ký lần đầu vào ngày 05/12/2022 có giá trị tại thời điểm tháng 10/2024 là 17.700.000đồng.

Ngoài các hành vi phạm tội đã nêu ở trên, H còn khai và thừa nhận với thủ đoạn tương tự H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Ma A C2, sinh năm 2005, trú tại M, G, T, Lai Châu 01 xe mô tô BKS 25AN-017.50 tại địa bàn thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; chiếm đoạt của anh C3 A M, sinh năm 2002 trú tại Tủa Sín C4, S, Lai Châu 01 xe mô tô BKS 23KA-319.79 tại địa bàn phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; chiếm đoạt của anh S3 A D1, sinh năm: 2002 trú tại Bản H, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La 01 xe mô tô BKS 26F1-157.59 tại địa bàn khu C, phường V, thành phố B; chiếm đoạt của anh Vàng Mí G, sinh năm 2005 ở xã K, huyện M, tỉnh Hà Giang 01 xe mô tô BKS 23AM-026.17 tại phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã chuyển nguồn tin đến CQĐT Công an huyện T, tỉnh Bắc Ninh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với xe mô tô BKS 23K1-111.98 H khai bán cho S1, nhưng S1 không thừa nhận, ngoài ra H khai nhận việc H lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh S2 A Q và anh Ly Quãng S thì bạn trai của H là Lưu Xuân T2, sinh năm 2001 tú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa biết và đi cùng với H để bán cho S1, nhưng T2 không thừa nhận. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đối chất nhưng không có kết quả, đồng thời S1 và T2 khai không quen biết nhau, khi bán xe chỉ có một mình H giao dịch, do vậy không có đủ tài liệu chứng minh S1 đã tiêu thụ xe mô tô BKS 23K1-111.98 và không đủ căn cứ xác định T2 đồng phạm với H.

Đối với Nguyễn Thành S1, chỉ thừa nhận mua của H xe mô tô BKS BKS 23AY-042.27 với giá 9.000.000 đồng và xe mô tô 23F1-169.83 với giá 8.000.000đồng sau đó S1 bán cho Lê Công L, sinh năm 1990 trú tại phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình với giá 12.000.000 đồng/1 xe.

Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội khởi tố vụ án, ngày 24/10/2024, tiến hành khám xét nơi ở của Lê Công L đã thu giữ của L 72 xe mô tô, trong đó có xe mô tô BKS 23AY-042.27 của anh S2 A Q và xe mô tô BKS 23F1-169.83 của anh Ly Q1 Sấn. Ngày 31/10/2024, Cơ quan điều tra Công an quận Đ đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành S1 và Lê Công L về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, trong đó có hành vi tiêu thụ 2 xe mô tô của anh Q và anh S nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với đối tượng tên V1 theo lời khai của H đã giới thiệu H cho S1 để mua bán xe do phạm tội mà có, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh đã qua sử dụng của H, hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Y.

Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh S2 A Q 01 căn cước công dân; 01 đăng ký xe mô tô BKS: 23AY-042.27 và 01 xe mô tô BKS 23AY-042.27; trả lại cho anh L1 Quãng Sấn 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, BKS: 23F1-169.83.

Đối với số tiền 25.000.000 đồng, do bán xe mà có H đã tiêu sài cá nhân hết nên không thu giữ được.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, gắn BKS: 23K1-111.98 có số khung: RLHJA3921NY734534, số máy: JA39E2934800 của anh Giàng A T1, hiện chưa thu giữ được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định truy tìm đối với xe mô tô nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận được tài sản anh S2 A Q và anh Ly Q1 Sấn không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự. Anh Giàng A T1 yêu cầu H phải bồi thường cho anh T1 17.700.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Ma Thị H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 26/CT-VKS-YM ngày 11/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Ma Thị Hằng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ma Thị H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Ma Thị H từ 3 năm tù đến 3 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/10/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí trong vụ án.

Bị cáo H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện đầu thú, là người dân tộc, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 03 năm tù và miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra họ đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người trên.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Trong các ngày 09/10/2024; 18/10/2024 và ngày 21/10/2024, tại thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên và xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội, bị cáo Ma Thị H đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số: 23AY - 042.27 trị giá 19.500.000 đồng của anh S2 A Q; 01 xe mô tô biển số 23K1-111.98, trị giá 17.700.000 đồng của anh Giàng A T1 và 01 xe mô tô biển số 23F1-169.83 trị giá 32.800.000 đồng của anh L1 Quãng Sấn. Tổng số tiền bị cáo Ma Thị H chiếm đoạt là 70.000.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở nhiều địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với 01 căn cước công dân; 01 đăng ký xe mô tô BKS: 23AY-042.27 và 01 xe mô tô BKS 23AY-042.27 bị cáo chiếm đoạt của anh Sìn A Q và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, BKS: 23F1-169.83 bị cáo chiếm đoạt của anh Ly Q1 Sấn. Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh S2 A Q và anh L1 Quãng Sấn các tài sản nêu trên. Anh Q và anh S không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, gắn BKS: 23K1-111.98 có số khung: RLHJA3921NY734534, số máy: JA39E2934800 bị cáo chiếm đoạt của anh Giàng A T1, hiện chưa thu giữ được, tại bản Kết luận định giá tài sản số 54/KL-ĐG ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Có giá trị tại thời điểm tháng 10/2024 là 17.700.000 đồng. Anh Giàng A T1 yêu cầu bị cáo H phải bồi thường cho anh T1 17.700.000 đồng nên cần buộc bị cáo H bồi thường cho anh Giàng A T1 17.700.000 đồng.
  • - Đối với số tiền bị cáo H bán xe mô tô BKS 23AY-042.27 chiếm đoạt của anh Q với giá 9.000.000 đồng và số tiền bán xe mô tô 23F1-169.83 chiếm đoạt của anh S với giá 8.000.000 đồng cho Nguyễn Thành S1, bị cáo H đã tiêu sài cá nhân hết, không thu giữ được và đây là số tiền bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu 17.000.000đồng của bị cáo H sung ngân sách nhà nước.

[7] Về vật chứng trong vụ án:

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo H là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[8] - Đối với Lưu Xuân T2, sinh năm 2001 tú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo H khai việc H lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh S2 A Q và anh Ly Quãng S thì bạn trai của H là Lưu Xuân T2 có biết và đi cùng khi đi bán xe cho Nguyễn Thành S1 nhưng T2 không thừa nhận. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đối chất nhưng không có kết quả, đồng thời S1 và T2 khai không quen biết nhau, khi bán xe chỉ có một mình H giao dịch, do vậy không đủ căn cứ xác định T2 đồng phạm với bị cáo H.

- Đối với đối tượng tên V1 theo lời khai của bị cáo H đã giới thiệu H cho S1 để mua bán xe do phạm tội mà có, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo Ma Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo xin miễn án phí nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ miễn án phí cho bị cáo.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Ma Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ma Thị H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Ma Thị H.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Buộc bị cáo Ma Thị H phải bồi thường số tiền 17.700.000đồng ( Mười bẩy triệu bẩy trăm nghìn đồng) cho anh Ly Quãng S, sinh năm 2003. Trú tại: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang.
  • - Truy thu của bị cáo Ma Thị Hằng S4 tiền 17.000.000 đồng ( Mười bẩy triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ và Cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền phải trả lại cho bị hại thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh đã qua sử dụng thu của bị cáo Ma Thị H.

(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ và Công an huyện Y).

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Ma Thị H.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma Thị H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger