|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 10-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thái và bà Đinh Thị Mỹ Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Tiên – Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025; đối với bị cáo:
PHAN THANH N, sinh năm 1995; Tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố H, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T, sinh năm 1964 và bà Trần Thị V, sinh năm 1966; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Gia đình có 03 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Trịnh Thị Kim N1, sinh năm 1969; Nơi cư trú: khu phố E, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
+ Lê Thị Ái V1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
+ Nguyễn Đức T1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: tổ E, khu phố G, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt. (bị bắt tạm giam trong vụ án khác).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 10 giờ ngày 07/01/2025, Phan Thanh N, đi bộ từ nhà dọc theo bờ kè Sông D để đi đến nhà người quen bên phường P, thị xã L để mượn tiền. Khi đi đến nhà bà Trịnh Thị Kim D1 ở số A đường H thuộc khu phố E, phường B, thị xã L, N nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo loại A58, có chiếc ốp lưng màu trắng đã cũ (điện thoại của bà Trịnh Thị Kim N1) đang để trên chiếc bàn đá trước nhà bà D1 nên N lén lút đi vào lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi đến tiệm Đ cầm cố chiếc điện thoại trên cho chị Lê Thị Ái V1 (là chủ tiệm) được 2.200.000 đồng. Chiếc ốp lưng điện thoại thì N ném xuống sông khu vực bờ kè. Sau đó Ngọc N dùng số tiền này trả nợ cho ông Nguyễn Đức T1 1.000.000 đồng; mua card điện thoại và tiêu xài cá nhân hết 1.100.000 đồng, còn lại 100.000 đồng.
Về phía bà Trịnh Thị Kim N1, khoảng 10 giờ ngày 07/01/2025 bà N1 làm việc tại nhà bà Trịnh Thị Kim D1 nên có để điện thoại của bà N1 trên chiếc bàn đá trong sân nhà bà D1, đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày bà N1 phát hiện điện thoại bị mất nên đã kiểm tra Camera và biết được, trước đó có một đối tượng nam thanh niên đã lén lút đi vào sân lấy trộm điện thoại nên bà N1 trình báo Công an phường P, thị xã L.
Vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo A58, màu xanh, 128G Cơ quan điều tra thu giữ từ bà Lê Thị Ái V1 đã trả lại cho bà Trịnh Thị Kim N1. Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ từ ông Nguyễn Đức T1 và 100.000 đồng thu giữ của bị cáo N (đây là tiền do N cầm cố điện thoại trộm cắp), hiện cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
Tại bản Kết luận số 03/KL-ĐGTS ngày 21/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L xác định: 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo A58, màu xanh, 128G đã qua sử dụng còn hoạt động có giá trị là 3.000.000 đồng.
Về dân sự: Bà Trịnh Thị Kim N1 đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; Đối với chiếc ốp lưng điện thoại bà N1 khai sử dụng đã lâu nên ốp đã cũ, giá trị không còn nên bà không yêu cầu định giá và cũng không yêu cầu bị cáo N bồi thường; bà Lê Thị Ái V1 yêu cầu bị cáo N bồi thường lại số tiền 2.200.000 đồng là tiền bà V1 đã bỏ ra cầm điện thoại cho bị cáo N.
Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 14/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Phan Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm trong bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phan Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phan Thanh N mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Lê Thị Ái V1 số tiền 2.200.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.100.000 đồng thu giữ trong vụ án, hiện đang có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L, tỉnh Bình Thuận cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xác định hành vi và tội danh như bản cáo trạng đã quy kết, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Sau sự việc xảy ra, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt; Tại Biên bản xác minh ngày 05/6/2025 tại Công an phường B – Công an tỉnh B thể hiện ông Nguyễn Đức T1 hiện nay đã bị khởi tố bắt tạm giam về tội “Trộm Cắp tài sản” hiện đang bị tạm giam tại tỉnh Bình Định nên không thể nhận các văn bản tố tụng của Toà án; Bà Lê Thị Ái V1 có đơn xin xét xử vắng mặt; Xét thấy, lời khai của bà Trịnh Thị Kim N1, bà Lê Thị Ái V1, ông Nguyễn Đức T1 đã được thu thập đầy đủ, hợp pháp thể hiện tại hồ sơ vụ án; Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến nội dung và bản chất của vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử, không gây trở ngại cho việc bồi thường dân sự, do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xét xử vụ án.
[3] Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi như Bản cáo trạng đã quy kết: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; vật chứng đã thu giữ trong vụ án; phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng10 giờ 30 phút ngày 07/01/2025, tại nhà bà Trịnh Thị Kim D1 ở số A đường H thuộc khu phố E, phường B, thị xã L, Phan Thanh N đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo A58, màu xanh, 128G có giá trị là 3.000.000 đồng của bà Trịnh Thị Kim N1. Sau đó mang đi cầm cố được số tiền 2.200.000 đồng; trả nợ cho ông Nguyễn Đức Thông S tiền 1.000.000 đồng; Tiêu xài cá nhân hết số tiền 1.100.000 đồng, số tiền còn lại 100.000 đồng bị thu giữ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; Do đó, xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị hại Trịnh Thị Kim N1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số tiền 2.200.000 đồng bị cáo cầm cố chiếc điện thoại của bà Lê Thị Ái V1, bà V1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường, do đó bị cáo phải bồi thường cho bà Lê Thị Ái V1.
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ từ ông Nguyễn Đức T1 là số tiền bị cáo phạm tội mà có sau đó trả nợ cho ông Nguyễn Đức T1. Quá trình điều tra, ông Nguyễn Đức T1 không yêu cầu gì; Tại phiên toà, bị cáo xác nhận sau khi bị khởi tố, bị cáo đã dùng tiền cá nhân để trả nợ cho ông T1, hiện nay không còn nợ ông T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ từ ông Nguyễn Đức T1 và số tiền 100.000 đồng thu giữ trên người bị cáo cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Về án phí: Bị cáo Phan Thanh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 290; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Về hình phạt: Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Phan Thanh N 09 (chín) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;
3. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 và Điều 357 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Phan Thanh N phải bồi thường cho bà Lê Thị Ái V1 số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng), hiện có tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo Biên lai thu tiền số 0004008 ngày 19/5/2025 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2025 để đảm bảo thi hành án
5. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Thanh N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/6/2025); Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Bình |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
