|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày: 10-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Phú.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trọng Thơi và bà Dương Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H, số F đường Đ, phường P, thị xã H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T, sinh ngày: 27/9/1998, tại thành phố H; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 06/4/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội- Bộ C2; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường B, phường P, quận T, thành phố H. Nơi cư trú hiện nay: Thôn Đ, xã L, huyện P, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân T1 và con bà Huỳnh Thị H; Có chồng là Đỗ T2 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; Gia đình có 02 chị em, bị cáo con đầu; Tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thùy T3, sinh năm 2002. Địa chỉ: Số I đường L, phường T, quận P, thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Văn C, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn X, xã L, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Chị Nguyễn Thị Lan H1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
- + Chị Trần Thị Thủy T4, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số A Đ, phường P, quận T, thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T và chị Nguyễn Thị Thùy T3 là đồng nghiệp cùng làm nhân viên tại cửa hàng Đ, địa chỉ: Tổ G, phường P, thị xã H, thành phố H. Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 26/12/2024, bị cáo T cùng chị T3 và một số nhân viên khác rủ nhau đi ăn. Khi ra khỏi cửa hàng, do trời mưa nên chị T3 để chiếc điện thoại Iphone 16 Promax trên bàn bảo vệ để mặc áo mưa. Thấy vậy, bị cáo T nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã dùng áo mưa của mình che chiếc điện thoại, rồi dùng tay phải lấy điện thoại Iphone 16 Promax cất giấu vào túi áo khoác đang mặc, rồi đi ăn cùng mọi người. Khi đến quán ăn, bị cáo T liền đi vào nhà vệ sinh tắt nguồn điện thoại để tránh bị phát hiện.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, sau khi đã đổi được mật khẩu và tài khoản I, bị cáo T đưa điện thoại đến cửa hàng điện thoại Quốc C1 ở thôn X, xã L, huyện P do anh Võ Văn C làm chủ, bán cho anh Võ Văn C với giá 26.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax, màu trắng, số Imei 1: 351613323743463, Imei 2: 351613321215506. 01 USB màu trắng, có nắp đậy, không nhãn hiệu, kích thước 6.5x2cm, phần giữa nắp đậy và USB có đường viền màu bạc rộng 0,4 cm. Về xử lý vật chứng: Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại điện thoại Iphone 16 Promax, màu trắng cho bị hại chị Nguyễn Thị Thùy T3, đối với 01 USB chuyển cùng hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận định giá số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, UBND thị xã H, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, đã qua sử dụng có giá trị định giá là: 34.290.200 (Ba mươi tư triệu hai trăm chín mươi ngàn hai trăm đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy T3 khai đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải bồi thường thiệt hại gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Văn C thì bị cáo đã bồi thường đầy đủ tiền cho anh C, anh C không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Xuân T đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSHTh ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo Bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phạm tội: Trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Xuân T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm từ kể ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy T3 khai đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Văn C khai đã nhận đầy đủ số tiền bồi thường nên không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thị Xuân T trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy T3 trình bày: Về hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Nguyễn Thị Xuân T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội nhưng có tính chất nhất thời và hiện nay chị cũng đã nhận lại tài sản và số tiền bồi thường thiệt hại đầy đủ, nay chị T3 không yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
- Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Văn C: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nhưng tại Cơ quan điều tra anh C trình bày: Về hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo T đã thực hiện thì anh không được biết nhưng anh có nhận mua 01 điện thoại Iphone 16 Promax với số tiền 26.000.000 đồng do bị cáo T đem bán. Hiện nay điện thoại này đã bị thu hồi để trả lại cho bị hại, còn số tiền mà anh đã bỏ ra để mua thì bị cáo đã bồi thường đầy đủ tiền cho anh, anh C không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật.
[2]. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy thu thập trong hồ sơ đều có giá trị pháp lý.
[3]. Quá trình điều tra truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
[4]. Căn cứ kết tội đối với bị cáo Nguyễn Thị Xuân T: Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 26/12/2024, tại cửa hàng Đ, địa chỉ: Tổ G, phường P, thị xã H, thành phố H. Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản nên đã lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thùy T3 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, trị giá: 34.290.200 đồng. Xét thấy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Nguyễn Thị Xuân T đã thực hiện là đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội này được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5]. Xét về tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Xuân T có tính chất nhất thời nhưng hành vi này là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo vẫn nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nếu xâm phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc nhưng vì động cơ vụ lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm để giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
[6]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị Nguyễn Thị Xuân T không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân huy chương kháng chiến nên bị cáo T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Xuân T là có căn cứ pháp luật.
[8]. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi làm việc và địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là nữ, mới phạm tội lần đầu nên không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Thị Xuân T ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo được hưởng án treo, theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cũng đủ tác dụng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy T3 khai đã nhận lại tài sản và số tiền bồi thường thiệt hại đầy đủ nên chị T3 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Còn đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Văn C tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Cơ quan điều tra, anh C khai đã nhận đủ số tiền bồi hoàn là 26.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Xuân T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, thành phố H chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 1, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Phú |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thị Xuân T phạm tội: Trộm cắp tài sản
